Home » All posts
Lăng Thoại Ngọc Hầu-Điểm du lịch An Giang
Lăng Thoại Ngọc Hầu là một công trình đồ sộ, kiến trúc nghệ thuật đẹp cổ kính, tọa lạc tại chân núi trong cụm di tích núi Sam, thuộc thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Lăng được xây dựng và hoàn thành vào cuối những năm 1820, do chính ông đứng ra chỉ huy thi công. Nơi đây, vừa là lăng mộ vừa là nơi thờ phượng Thoại Ngọc Hầu – người có công khai mở miền Nam và trấn thủ đồn biên phòng cho Tổ quốc.
Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại sinh năm Tân Tỵ (1761), mất năm Kỷ Sửu (1829) thọ 68 tuổi, được phong tước Hầu. Ông người huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, được triều đình nhà Nguyễn cử vào khai phá và trấn giữ An Giang đạo và ông đã gắn bó mật thiết với vùng tứ giác Long Xuyên qua các kỳ công:
- Khai sơn khẩn đất, tập hợp lưu dân hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, cù lao Biên Hòa về các vùng Ông Chưởng (Chợ Mới), Núi Sập (Thoại Sơn), Châu Đốc, Long Xuyên…
- Tổ chức đào kinh Thoại Hà, khởi công từ năm 1818, sau hơn hai tháng đã hoàn thành, huy động hơn 2000 sưu dân, với chiều dài 31.744m và kinh Vĩnh Tế (từ Châu Đốc tới Hà Tiên) khởi đào từ năm 1819 đến năm 1824 huy động hơn 80.000 sưu dân, dài hơn 90km.
Sau khi việc đào kinh hoàn tất, Thoại Ngọc Hầu cho vẽ bản đồ và báo cáo về triều đình Huế, được vua khen ngợi ban sắc chỉ cho lấy tên người mà đặt cho tên sông là Thoại Hà (sông Thoại) và lấy vợ chánh ông là Vĩnh Tế đặt cho kinh (kinh Vĩnh Tế). Ngoài công trình đào kinh, ông còn đắp nhiều con lộ giúp cho giao thông qua lại dễ dàng hơn.
Chính công lao to lớn này mà lâu nay khi nhắc đến ông người ta thường chỉ nhắc tới việc ông đào Thoại Hà và Vĩnh Tế hà chứ ít người biết được rằng trước đây hàng thế kỷ, ông đã tích cực khai hoang để biến cải những vùng hoang vu, rừng rậm trở thành nơi dân cư đông đúc. “…bên kia quận Vũng Liêm, thuộc tỉnh Vĩnh Long bây giờ, một Cù Lao Dài 17 cây số, ruộng vườn thạnh mậu, dân cư sung túc, lại chính là một nơi mà 150 năm trước đây, Thoại Ngọc Hầu đã di dân lập ấp, dựng thành xã thôn?”1.
Sau các làng kể trên, Thoại Ngọc Hầu đã mở mang một số thôn cư bên chân núi Sập. Năm 1818, ông lại phát động công tác đào kinh Đông Xuyên, thông qua Rạch Giá. Khi con kinh đào xong, dân cư tụ về càng đông. Từ chỗ hoang vắng, vượn hú chim kêu nay trở thành một khu dân cư trù mật, đất đai màu mỡ, cỏ cây xanh tốt… Từ đó, người ta đặt tên làng là Thoại Sơn để ghi nhớ công ơn của người khai thác.
“Năm 1821, khi Thoại Ngọc Hầu đến án thủ Châu Đốc, ông lại nỗ lực khai thác biên cương. Tất cả những cỏ cây rậm rạp quanh bờ Hậu Giang chạy dài theo kinh Vĩnh Tế thẳng đến núi Sam, đều được ông cho khai phá. Hoài bão của ông là phải làm sao cho nước giàu dân mạnh, có trật tự an ninh và nhất là phải biến rừng hoang thành thôn xóm. Chính những mơ ước này đã được Thoại Ngọc Hầu thổ lộ trong bia Vĩnh Tế sơn:
Lão thần Thoại Ngọc Hầu vốn lãnh ấn Bảo hộ Cao Miên, kiêm quản gìn giữ đồn Châu Đốc, kính dâng thánh thượng, xem xét sửa sang bờ cõi, nghiêm ngặt đồn thủ, theo ý lời dụ.
Nay dấu văn hiến chung đồng làm một, cửa thành đóng kín an vui, nên muốn cho nơi cỏ hoang bát ngát đều trở nên làng mạc dân chúng đông vầy, có sổ bộ ghi biên, dâu gai đầy nội, khói lửa liên tiếp nhau, cùng với huyện kề bên, đông đúc giàu có như nhau cả”3.
Vì những công lao to lớn của ông đối với vùng đất phía Nam của Tổ quốc nên khi ông mất, Minh Mạng thứ 10 đã truy phong cho ông chức Tráng võ Tướng quân, Trụ quốc Đô thống, thưởng tiền 1000 quan, gấm loại tốt 5 cây, lụa 10 tấm và vải 30 tấm. Con trai ông là Nguyễn Văn Lâm được tập ấm hàm Kị úy.
Ngày nay, du khách đến An Giang du lịch thường nán chút thời gian để ghé sơn lăng thắp vài nén nhang để tạ ơn công đức của tiền nhân. Khung cảnh uy nghiêm của sơn lăng Thoại Ngọc Hầu gợi cho du khách những hoài niệm về người xưa, về công đức của những bậc tiền bối trong công cuộc sự nghiệp mở mang bờ cõi của dân tộc. Vẻ đẹp bên ngoài của lăng mộ nói lên lòng tôn kính tột độ của nhân dân đối với một bậc khai quốc công thần.
Toàn khu lăng mộ là một kiến trúc hài hòa, duyên dáng được bao bọc xung quanh bởi một bức tường dày và các bậc thang được xây bằng đá ong. Phía trước lăng là khoảng sân rộng, khu chính giữa là mộ của ông nằm giữa mộ hai phu nhân cùng đền thờ. Hai bên là hai dãy mộ vô danh, họ là những người theo ông khai hoang, lập ấp, xây dựng nhiều công trình cho vùng tứ giác Long Xuyên. Sau phần mộ của Thoại Ngọc Hầu là tấm bia Vĩnh Tế sơn được làm bằng đá sa thạch, khắc 730 chữ, được dựng từ năm 1824. Trước Long đình là hai con nai tạc bằng xi măng, điểm xuyết thêm vẻ đẹp của lăng. Hai cửa lớn vào lăng rộng, hình bán nguyệt – kiến trúc theo lối cổ, liền với bức tường kiên cố dày 1m, cao 3m. Sau lăng là đền thờ, trên nền đất cao. Sau lưng đền thờ là vách núi chập chùng, tạo thành bức bình phong kiên cố và hùng vĩ, tôn thêm vẻ cổ kính uy nghi.
Lăng Thoại Ngọc Hầu là một di tích mang nhiều ý nghĩa lịch sử và kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu thời nhà Nguyễn, là sự kết hợp chặt chẽ giữa thiên nhiên với sức lao động sáng tạo của con người. Vào lăng, du khách sẽ được chiêm ngưỡng di tượng Thoại Ngọc Hầu cao khoảng 2m, cùng những áng văn chương lộng lẫy, với liễn đối, hoành phi, văn bia, văn tế… gợi lại hình ảnh nước non một thời oanh liệt, thuở cha ông đi mở nước, xây dựng nhiều công trình bề thế cho đời sống văn hóa, kinh tế con người thuở ấy và sau này.
Phiên âm:
“Thống chê án thủ Châu Đốc đồn, lãnh bảo hộ Cao Miên quốc ấn, kiêm quản Hà Tiên trấn biên vụ, gia nhị cấp ki lục tứ thứ, truy tặng Tráng tướng quân, trụ quốc đô thống, thụy Võ Khắc, Nguyễn Công húy Thoại tôn thần”.
Dịch nghĩa:
Dịch nghĩa:
Tôn thần của Nguyễn Công, húy là Thoại, thụy là Võ Khắc được truy tặng là Tráng võ tướng quân trụ quốc đô thống được bốn lần gia nhị cấp kỉ lục, là thống chế án giữ đồn Châu Đốc lãnh ấn bảo hộ nước Cao Miên, kiêm giữ việc biên giới trấn Hà Tiên”4.
Hằng năm, vào ngày giỗ ông, nhân dân từ mọi nơi đổ về lăng Thoại Ngọc Hầu để chiêm nghiệm, tưởng nhớ công lao và sự nghiệp của ông.
Miếu Bà Chúa Xứ- Điểm du lịch An Giang
Nguồn gốc
Cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà (sau được gọi tôn là Bà Chúa Xứ) được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh núi Sam bằng 9 (có nguồn nói 12 hoặc hơn nữa) cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của Bà qua miệng "cô đồng", nên người dân đã lập miếu để tôn thờ
Có ý kiến cho rằng Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà Châu Thị Tế là người đã ban lệnh và hỗ trợ việc xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi vị quan này về đây trấn nhậm và kênh Vĩnh Tế đã hoàn tất (1824) mang lại lợi ích rõ rệt cho lưu dân và dân bản địa
Kiến trúc
Năm 1870, ngôi miếu được xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Năm 1962, ngôi miếu được tu sửa khang trang bằng đá miểng và lợp ngói âm dương. Năm 1965, Hội quý tế cho xây nới rộng nhà khách và làm hàng rào nhà chính điện của ngôi miếu. Năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay, và người thiết kế là hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng.Ban đầu miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam được cất đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng phía tây bắc núi Sam, lưng quay về vách núi, chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng.
Đến khi ấy, kiến trúc miếu có dạng chữ "quốc", hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Bên trong miếu có võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban quý tế...
Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.
Ở thời điểm năm 2009, thì miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam là "ngôi miếu lớn nhất Việt Nam"
Tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam
Theo nhà khảo cổ học người Pháp là Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, thì tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Vishnu (nam thần), tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, được tạc vào cuối thế kỷ 6, và rất có thể đây một trong số hiện vật cổ của nền văn hóa Óc Eo [4].Khi xưa, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại (ảnh). Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, không có ở địa phương.
Sau này, nhà văn Sơn Nam cũng đã chép rằng: Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó "Bà Chúa Xứ" là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy...[5]
Cũng theo lời truyền miệng dân gian, thì khi xưa có một nhóm người đến quấy nhiễu nơi đây. Gặp tượng Bà, họ muốn lấy đi nhưng xê dịch không được nên tức giận đập gãy cánh tay trái của pho tượng
Chung quanh tượng Bà (đặt ở giữa chính điện), còn có bàn thờ Hội Đồng (phía trước), Tiền hiền và Hậu hiền (hai bên), bàn thờ Cô (bên phải, có thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ), bàn thờ Cậu (bên trái, có thờ một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m)...
Theo sách Kỷ lục An Giang, 2009, thì tượng Bà là "pho tượng bằng đá sa thạch xưa nhất Việt Nam", và "có áo phụng cúng nhiều nhất"
Việc thờ cúng
Lễ "tắm Bà" được cử hành vào lúc 0 giờ đêm 23 rạng 24 tháng 4 âm lịch.Lễ Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được tổ chức trang trọng từ ngày 23 đến 27 tháng 4 âm lịch hàng năm, trong đó ngày vía chính là ngày 25. Các lễ chính gồm:
- Lễ "thỉnh sắc" tức rước sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ Sơn lăng về miếu bà, được cử hành lúc 15 giờ chiều ngày 24.
- Lễ túc yết và Lễ xây chầu: Lễ "túc yết" là lễ dâng lễ vật (lễ vật chính là con heo trắng) và tiến hành nghi thức cúng Bà, lúc 0 giờ khuya đêm 25 rạng 26. Ngay sau đó, là "Lễ xây chầu" mở đầu cho việc hát bộ (còn gọi là hát bội hay hát tuồng).
- Lễ chánh tế được cử hành vào 4 giờ sáng ngày 27.
- Lễ hồi sắc được cử hành lúc 16 giờ chiều cùng ngày, ngay sau khi Lễ chánh tế kết thúc. Đây là lễ đem sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân về lại Sơn lăng.
Theo tín ngưỡng của người dân, nơi đây vẫn còn có những tục như xin xăm Bà, vay tiền Bà, thỉnh bùa Bà...
Một vài lưu ý khi Viếng Miếu Bà
Gần đến ngày viếng bà chúa xứ núi Sam, một trong những lễ hội lớn được công nhận lễ hội văn hóa cấp quốc gia. Có đến đây, du khách mới có thể cảm nhận được sự tâm linh của đông đảo người dân dành cho bà chúa xứ núi Sam là như thế nào…
Chùa Bà – Châu Đốc – An Giang
Tuy nhiên, khi đến những ngày này một điều quan tâm nhất của ban quản lý chùa bà cũng như chính quyền sở tại là nạn lọc lừa, dụ, gạt và rồi móc túi du khách diễn ra nhan nhản. Sau đây một vài lưu ý được Cổng thông tin sổ tay du lịch và khám phá tổng hợp từ độc giả gởi về, mong các bạn có một mùa viếng chùa khỏe và trọn vẹn.
Miếu bà chúa Xứ về đêm
- Lễ vật: Lễ vật cúng bà được đông đảo người đi hành hương là heo quay, từ đó xảy ra dịch vụ cho thuê heo quay mướn. Du khách đến đây, có thể thuê heo quay được tính bằng Kg, sau khi cúng vái xong thì chú heo quay ấy sẽ trở về vòng quay cho thuê người tiếp theo…liệu như thế bạn chứng tỏ lòng thành của mình hay chỉ là góp phần cho nạn cò heo quay lộng hành??
– Giá cả: Trả giá là điều cần phải làm khi đến Châu Đốc nhất là nhà nghỉ, lễ vật…vào những ngày đỉnh điểm của lễ hội nếu không bạn sẽ là người bị hại nhiều nhất.
– Ăn xin: Tình trạng ăn xin diễn ra rầm rộ khi ngày lễ diễn ra, đừng nên cho tiền ăn xin vào ngày này nếu như bạn muốn bị hàng chục người ăn xin khác vây bạn như thể bạn là một “ngôi sao”. Mặc khác, tình trạng giả bệnh, giả cụt chân, tay…được biến hóa một cách rất tài tình…lợi dụng tình trạng này mà móc túi, giật đồ diễn ra mà bạn không hay biết.
– Lộc “trời cho”: Bạn đang thẩn thần thành tâm viếng chùa, bỗng một người lạ đến đưa bạn một túi nhỏ trong đó đủ thứ những vật cúng hoặc một tờ giấy 500 đồng được xếp theo đủ kiểu dúi vào tay, túi áo…cho bạn, ngay lập tức hãy trả lại hoặc bỏ mà đi vào chùa nếu như bạn không muốn bị dính vào cảnh người dúi túi lộc đó cho bạn đi theo xin tiền “trả lễ”. Tuy là nói tùy hỷ, nhưng nếu bạn trả lộc ít thì bạn sẽ nhận ngay những lời lẽ thô tục dần dập vào bạn.
– Chen lấn: Không thể tránh khỏi khi mà hàng trăm ngàn người đổ về chùa bà cùng lúc. Đây là cơ hội của bọn móc túi rinh tiền, điện thoại, nữ trang của bạn, do đó khi đã viếng bà những ngày này tuyệt đối không nên mang nữ trang trên người, điện thoại và ví tiền nên bỏ vào tùi quần có dây kéo cẩn thận và khó luồng tay vào được.
Khu lưu niệm Tôn Đức Thắng- Điểm du lịch An Giang
Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng tọa lạc tại cù lao Ông Hổ, thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Từ TP. Long Xuyên, du khách có thể đến thăm khu lưu niệm bằng cả đường thủy và đường bộ. Với diện tích hơn 62.000m2 , đây là điểm du lịch về nguồn hấp dẫn, nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau về tấm gương sáng ngời của Chủ tịch Tôn Đức Thắng.
Năm 1984, khu lưu niệm được bắt đầu hình thành khi ngôi nhà nơi Bác Tôn sinh ra và sống những năm tháng niên thiếu ở ấp Mỹ An, xã Mỹ Hòa Hưng, được công nhận là Di tích lịch sử. Năm 1988, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Tôn, tỉnh An Giang đã mở rộng khu vực này và đầu tư xây dựng thêm nhiều hạng mục công trình: Công viên cây xanh, nhà trưng bày mới giới thiệu về thân thế sự nghiệp Bác Tôn, đền tưởng niệm, rạch cảnh, cầu kiều, trùng tu, gia cố thêm ngôi nhà di tích lưu niệm…
Cũng kể từ ngày 20-8-1988, tỉnh An Giang quyết định chọn ngày sinh của Bác Tôn (20-8) làm ngày lễ hội truyền thống hàng năm của TP. Long Xuyên. Đến tháng 8-2008, khu lưu niệm có thêm các công trình: Chiếc chuyên cơ từng đưa Bác Tôn từ Hà Nội vào Sài Gòn chủ trì đại lễ mừng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975; phục chế ca nô Bác Tôn từ Côn Đảo về đất liền năm 1945; trưng bày các tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ, tranh ghép bằng gáo dừa; xây dựng cầu tàu… Nhằm giúp người dân tham quan khu lưu niệm hiểu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, tỉnh An Giang đã đầu tư phục chế mô hình nhà lán của Bác Tôn tại chiến khu Việt Bắc, xây cầu treo dài 80m đón khách tham quan bằng đường sông; trùng tu sửa chữa nhà trưng bày, xây dựng nhà nghỉ mát phục vụ khách tham quan…
Ngày 10-5-2012, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 548/QĐ-TTg về việc xếp hạng Di tích lịch sử - Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng là Di tích quốc gia đặc biệt.
Rừng Tràm Trà Sư- Điểm du lịch An Giang
Rừng tràm Trà Sư |
| Vị trí: Xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, cách TP. Châu Đốc khoảng 20km và cách biên giới Việt Nam – Campuchia 10km. Đặc điểm: Là khu rừng ngập nước tiêu biểu cho vùng Tây sông Hậu, nơi sinh sống của nhiều loài chim nước, động vật hoang dã và thủy sinh vật thuộc hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam. |
Từ thị xã Châu Đốc, rẽ trái khoảng 17km đến thị trấn Nhà Bàng thuộc huyện Tịnh Biên. Từ đây, đi theo đường tỉnh lộ 948 đến Km số 6, du khách tiếp tục rẽ trái đi theo một con đường nhỏ dài khoảng gần 4km là đến rừng tràm Trà Sư. Tại trạm tiếp đón, du khách có thể thuê những chiếc xe đạp đôi để tận hưởng thú vui cưỡi xe đạp thăm thú rừng tràm. Đoạn đường này chỉ dài khoảng 5 – 6km. Phía trên là màu xanh của ngọn tràm, bên dưới mương nước thỉnh thoảng nghe tiếng cá vẫy đuôi tạo nên những âm thanh là lạ. Đến khi con kênh dài với dòng nước mát lành và dãy rừng tràm xa tít, ngăn ngắt màu xanh hiện ra trước mắt, du khách sẽ không đi bằng xe đạp được nữa mà phải dùng ghe, xuồng nhỏ để dễ dàng len lỏi giữa các con rạch khám phá khu rừng. Ngồi trên xuồng, nhè nhẹ từng nhịp chèo khua trên dòng nước, ngắm hàng chục loài chim hót véo von trên ngọn tràm, du khách sẽ ngỡ như đang lạc vào xứ sở thần tiên. Du khách đến rừng tràm Trà Sư, mỗi lúc lại thêm ngỡ ngàng và thích thú, vì được nhận ra bao điều kỳ diệu của thiên nhiên mà cây rừng đang gìn giữ trong sắc lá và hương tràm ngào ngạt. Với diện tích gần 850ha, rừng Trà Sư là nơi trú ngụ của 70 loài chim thuộc 13 bộ và 31 họ, trong đó có 2 loài chim quý hiếm đã được ghi vào sách Đỏ Việt Nam là giang sen (Mycteria leucocephala) và điêng điểng (Anhinga melanogaster). Đối với loài thú đã thống kê được 11 loài thuộc 4 bộ và 6 họ. Các bộ có số loài nhiều nhất là dơi (15 loài) và gặm nhấm (4 loài), trong đó có loài dơi chó tai ngắn quý hiếm cũng đã được ghi vào sách Đỏ Việt Nam. Riêng bò sát, ếch, nhái cũng có tới 25 loài, 2 bộ, 10 họ, trong đó có cả rắn hổ mang, cạp nong. Ngoài ra, rừng còn có 10 loài cá xuất hiện quanh năm và 13 loài chỉ xuất hiện vào mùa lũ, trong đó có 2 loài cá có giá trị khoa học và đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng là cá còm và cá trê trắng. Không chỉ phong phú về động vật, Trà Sư còn là nơi tụ họp của 140 loài thực vật thuộc 52 họ và 102 chi, trong đó có 22 loài cây gỗ, 25 loài cây bụi, 10 loài dây leo, 70 loài cỏ, 13 loài thủy sinh, 11 loài sinh cảnh, 78 loài thuốc và 22 loài cây cảnh. Chính sự đa dạng và phong phú về tài nguyên khiến rừng tràm Trà Sư trở thành điểm đến lý tưởng đối với các nhà nghiên cứu và những người ham mê khám phá thiên nhiên hoang dã. Mùa nước nổi là quãng thời gian thích hợp nhất để đến với rừng tràm. Du khách đi thuyền xuyên rừng sẽ được ngắm cánh rừng biếc xanh bạt ngàn mênh mông, nở đầy những bông hoa tràm trắng tinh khiết trong nắng sớm, hương tràm thoảng đưa nhẹ nhàng khiến tinh thần trở nên thư thái, lâng lâng. Tưởng như tất cả những sắc màu tụ tập về đây, sóng sánh trong sắc nước. Những cây thủy liễu uốn mình mềm mại trong làn nước trong, vài ba chú cá bơi lội tung tăng và ánh mặt trời không ngừng nhảy múa trên mặt nước phản chiếu những sắc màu kì lạ. Lúc thì màu xanh ve chai, khi thì bạc lấp lánh, có nơi lại ửng vàng màu hổ phách. Thật khó biết ẩn trong màu nước ấy chứa bao nhiêu loài thuỷ sinh, nào những chiếc lá lấm tấm màu tím lạ lẫm; nào những thân tràm lắt lay bông trắng trong màn nước dập dờn; nào rừng sen lá xanh thắm, bông đỏ tươi khoe nở; những khóm bông điên điển vàng rập rờn như đàn bướm; thảm rong đuôi chồn sóng sánh uốn mình trong sóng nước với những đoá hoa nhỏ xíu ánh vàng màu nắng; hay những thảm bèo tai tượng ôm kín các gốc tràm mọc san sát nhau… Vừa ngắm cảnh đẹp, du khách có thể vừa tự tay hái các loại rau muống, rau dừa, điên điển… trước khi đi sâu vào rừng khám phá thế giới của các loài chim. Mỗi ngày ở rừng Trà Sư đều có một khoảng thời gian rất sống động. Đó là khi ánh nắng bắt đầu nhạt dần chỉ còn sót lại những sợi tơ vàng óng xuyên qua rừng cây thì cũng là lúc đàn chim trú ngụ trong rừng tràm bắt đầu bay về tổ. Từng bầy, từng bầy xuất hiện dày đặc khu rừng với sinh hoạt tự nhiên như không hề biết đến sự có mặt của con người. Cò trắng lấp ló sau những cành cong; diệc, cồng cộc mổ nhau chí chóe sau gốc cây tràm; chích, le le chao liệng khắp cánh rừng rồi đáp nhẹ xuống những thân tràm; những chú dơi quạ - có con nặng 3kg sải cánh dài tới 1m - móc chân vào cành cây buông thõng mình từ trên cao xuống. Mỗi loài một hình dạng và màu sắc khác nhau: trắng, đen, xanh ve chai, lốm đốm, khoang…Trong những tổ chim trên cành cao, du khách có thể nhìn thấy những chú chim non kêu chiếp chiếp chờ đợi chim mẹ mớm mồi hay những đôi chim uyên ương đang âu yếm rỉa lông, tỉa cánh cho nhau. Tiếng chim ríu rít trong bản hòa tấu không ngừng. Tưởng như tất cả các loài cùng đồng thanh hát bài hát ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp, ca ngợi cuộc sống bằng những giai điệu nồng nàn, làm cho du khách phương xa cũng cảm thấy gần gũi với khung cảnh thiên nhiên nơi đây. Ngoài ra, du khách cũng có thể trèo lên tháp canh cao 14m nằm giữa rừng, dùng ống nhòm để quan sát, và nếu may mắn sẽ thấy hàng vạn con cò trắng bay về tổ như tấm vải trắng khổng lồ phủ trên nền rừng xanh. Chiều càng xuống sâu, không gian càng bát ngát mênh mông. Tại những chiếc lán bên bìa rừng, du khách có thể vừa thưởng thức những món ăn đặc sản tươi ngon của vùng sông nước Nam Bộ như cá linh nướng, cá lóc hấp bầu, gà nướng muối ớt, cá lóc rừng cuốn lá sen nướng trui, cua đồng chấm mắm me, bông điên điển bóp giấm… trong một không gian mát rượi gió quê, vừa thả hồn theo tiếng ca vọng cổ ngọt lịm của những cô thôn nữ. Tất cả không gian ở đây, từ âm thanh, ánh nắng đến món ăn miệt vườn dân dã đều có những hương vị rất riêng mà không phải nơi nào cũng có được. Ngoài những giá trị phong phú về mặt tài nguyên thiên nhiên, rừng tràm Trà Sư còn chứa đựng những yếu tố văn hóa độc đáo của cộng đồng dân cư sống ven rừng. Quanh rừng Trà Sư có khá nhiều đồng bào Khơ-me và Kinh sinh sống với nhiều ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như dệt thổ cẩm, nấu đường thốt nốt, chưng cất tinh dầu tràm, nuôi ong lấy mật… Nếu một lúc nào đó du khách có nhu cầu muốn phiêu lưu trong chốn rừng hoang, muốn tạm thời quên hết lo âu của cuộc sống bộn bề, muốn một mình sống với thiên nhiên, hãy đến rừng tràm Trà Sư với biết bao điều thú vị đang đón chờ để có thêm nhiều kỷ niệm đẹp trong cuộc sống. Đây là vùng đất lạ mà quen, bởi con người nơi đây luôn thân thiện và hiếu khách, sẽ mang lại cho du khách cảm giác như đang dạo chơi trong chính không gian của riêng mình. |
Các điểm du lịch tại An Giang
An Giang được biết đến với các địa điểm du lịch rất nổi tiếng, như là núi cấm, núi sam, các lễ hội thu hút rất đông du khách tham quan hằng năm như là lễ hội bà chúa xứ, lễ hội đua bò bảy núi.
1. Núi Sam
Núi Sam có tên khác Vĩnh Tế Sơn hay Ngọc Lãnh Sơn cao 284 m có chu vi 5.200m, là một núi nằm trong vùng Bảy núi, thuộc xã Vĩnh Tế – nay là Phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Núi Sam là một địa điểm du lịch nổi tiếng ở Các tỉnh miền tây . Theo truyền thuyết, núi có nhiều linh hiển, nên có nhiều chùa thờ Phật đã dựng lên tại đây gần 2 thế kỷ. Ðồng bào khắp nơi hành hương về đây cúng lễ rất đông. Có đến 200 ngôi đền, chùa, am, miếu nằm rải rác ở chân núi, sườn núi và cả trên đỉnh. Trên đỉnh núi có một pháo đài được xây dựng từ thời Pháp.
Chùa Tây An ở núi Sam
Trên đỉnh, còn dấu tích một bệ đá, nơi tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam ngự, trước khi được đem về miếu… Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn.
Trên và quanh núi Sam có rất nhiều chùa miếu, trong đó nổi tiếng nhất là Miếu Bà chúa Xứ, Chùa Tây An, lăng Thoại Ngọc Hầu, Chùa Phước Điền (còn gọi Chùa Hang) là những hạng mục trong Khu di tích lịch sử – Văn hoá núi Sam dã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam công nhận là di tích cấp quốc gia.
Đặc biệt là lễ hội miếu Bà Chúa Xứ hay còn gọi là lễ Vía Bà được tổ chức hàng năm từ đêm 23/4 đến 27/4 âm lịch. Lễ Vía Bà hằng năm thu hút rất đông khách thập phương. Đến với lễ hội hội họ vừa được tham dự lễ hội dân gian phong phú để xin cầu tài cầu lộc. Hằng năm thu hút hơn 2 triệu lượt khách tham quan.
2. Thất Sơn – Núi Cấm
Vùng Bảy Núi hay còn gọi là Thất Sơn, gồm bảy ngọn núi không liên tục thuộc 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên của tỉnh An Giang.
Bảy Núi là 7 ngọn núi tiêu biểu trong 37 ngọn núi ở 2 huyện. tên của bảy ngọn núi là: núi Cấm (Thiên Cẩm Sơn), núi Dài Năm Giếng (Ngủ Hồ Sơn), núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn), núi Dài (Ngọa Long Sơn), núi Tượng (Liên Hoa Sơn), núi Két (Anh Vũ Sơn), núi Nước (Thủy Đài Sơn).
Vùng Bảy Núi còn là nơi có nhiều lễ hội, phong tục… đặc thù của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ, như lễ Chol Chnam Thmay, lễ Pisat bo chia, lễ Pha Chum Bênh (tức lễ Đôn Ta)…và đặc biệt hơn cả là lễ hội Đua bò Bảy Núi được diễn ra vào cuối tháng 9, đầu tháng 10 hằng năm…
3. Núi Cấm
Núi Cấm là một trong những ngọn núi đẹp và hùng vĩ cũa dãy Thất Sơn . Đây là địa danh du lịch rất nổi tiếng của An Giang và ĐBSCL vì khí hậu mát mẻ, phong cảnh đẹp và cây cối luôn xanh tươi. Trên núi có: Chùa Vạn Linh, chùa Phật Lớn, tượng Phật Di Lặc, Cao Đài Tự…Từng được xưng tụng bằng nhiều mỹ từ, là “nóc nhà của đồng bằng”, hoặc một Đà Lạt thứ hai giữa vùng sông nước miền Tây.
Ngoài ra, dọc theo những lối mòn từ chân lên tới đỉnh núi có nhiều điểm tham quan như: suối Thanh Long, suối Tiên, điện Cây Quế, điện Mười Ba, điện Tam Thanh, điện Huỳnh Long, hang Ông Thẻ, hang Ông Hổ, hang Bác Vật Lang, động Thủy Liêm. Dưới chân núi Cấm, về phía Đông là khu du lịch Lâm Viên, với diện tích khoảng 100 ha, có cảnh quan đẹp, có đường tráng bê tông khá rộng lên đến đỉnh.
Tượng di lặc trên núi Cấm
Bên cạnh các nguồn lợi từ du lịch, hành hương, cây trái… núi Cấm còn có các nguồn lợi khác từ tài nguyên, như đá xây dựng, cát núi, đất sét cao-lanh và nước khoáng thiên nhiên…
4. Rừng tràm Trà Sư
Rừng tràm Trà Sư cách thành phố Long Xuyên gần 100 km, thuộc xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Với sinh cảnh rừng tràm ngập nước và hệ động thực vật phong phú, Trà Sư biểu trưng cho nét đẹp mùa nước nổi An Giang.
Đây cũng là khu rừng ngập nước nội địa thứ 6 của các tỉnh miền tây . Mặc dù đường vào rừng còn gập ghềnh ổ gà, ổ voi nhưng ai đã một lần đặt chân đến đây sẽ nhanh chóng bị không gian huyền bí của rừng cuốn hút…
Rừng tràm Trà Sư
Đứng trước cây cầu vào cổng, trước mắt du khách hiện ra con kênh dài với dòng nước mát lành, thi thoảng lại có chú cá vẫy đuôi làm xao động mặt nước. Ngay cạnh đó là cả dãy rừng tràm xa tít, ngăn ngắt màu xanh. Từ đây, du khách không đi bằng xe nữa mà phải dùng ghe, xuồng nhỏ để dễ dàng len lỏi trong các ngóc ngách của rừng. Ngồi trên xuồng, nhè nhẹ từng nhịp chèo khua trên dòng nước trong xanh, ngắm hàng chục loài chim hót véo von trên từng ngọn tràm mà ngỡ như mình đang lạc vào xứ sở thần tiên.
Đất lành chim đậu, một số loài chim nước sống quanh năm ở đây như cò, cồng cọc, dang sen, bìm bịp, lele… Ngoài ra còn có cả dơi quạ.
5. Cù Lao Giêng
Cù lao Giêng là một hòn đảo lớn (cù lao) nay thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (gồm các xã Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp và Bình Phước Xuân).
Với cảnh quan thiên nhiên đầy sức quyến rũ của một vùng sông nước, cá lội tung tăng cùng vô vàn chủng loại cây trái đặc sản của miền phù sa nước ngọt, Cù Lao Giêng còn có những công trình văn hoá và mỹ thuật tiêu biểu như Chùa Bà Lê (Phước Hội Tự), một di tích lịch sử cách mạng thuộc xã Hội An, huyện Chợ Mới đã được Nhà nước công nhận di tích quốc gia. Hiện nay, bên trong còn thờ những bài vị của các anh hùng liệt sĩ cách mạng dưới hình thức tôn giáo để che mắt giặc trong thời chiến tranh.
Thánh đường Cù Lao Giêng
Với quê sông nước hữu tình nằm giữa sông Tiền với nhiều công trình kiến trúc tôn giáo đặc sắc như Quần thể kiến trúc Thiên chúa giáo xã Tấn Mỹ, Thánh đường Cù lao Giêng, Chùa Đạo Nằm, Phủ thờ Mã Tộc, Chùa Bà Vú,… Cũng là nơi xuất thân của nhiều danh nhân An Giang.
Ngoài ra còn có 1 số nơi như là Hồ Thoại Sơn, Búng Bình Thiên, nhà Bảo Tàng tỉnh An Giang, khu tưởng niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng,….
Ẩm thực An Giang
1. Gỏi sầu đâu
Cây sầu đâu còn gọi là cây xoan ăn gỏi, một loài cây mọc hoang, nhiều nhất ở Châu Đốc và vùng Bảy Núi – An Giang. Lá sầu đâu nhỏ, dài và mỏng. Lúc còn non, đọt có màu tim tím.
Lá sầu đâu được chế biến thành nhiều món ăn, phổ biến nhất là sầu đâu chấm cá kho, thịt kho hoặc ăn kèm với mắm thái, mắm chưng, từng được coi là món ngon hiếm có trên đời. Chính vị mặn nồng của mắm hòa hợp với vị đăng đắng, hậu ngọt của lá sầu đâu sẽ làm cho vị giác lâng lâng khó tả, càng ăn càng cảm thấy khoái khẩu. Nhưng thực đơn nổi tiếng nhất ở An Giang xưa nay vẫn là món gỏi sầu đâu. Từ gỏi tôm, gỏi thịt, gỏi cá cho đến gỏi khô, thứ nào cũng tuyệt hảo.
Vị đắng dìu dịu của sầu đâu và vị mặn, ngọt, dai dai của cá quyện với nhau càng làm cho khẩu vị thăng hoa nhờ mùi đặc trưng, lạ miệng, hoàn toàn không giống với bất cứ loại gỏi nào.
2. Mắm ruột
An Giang nổi tiếng về mắm và mắm ruột là món ăn làm từ ruột cá ngon, trộn với thính gạo lứt để chừng ba tháng. Mắm ngấu chao với đường thốt nốt lên vị rất ngon.
Mắm sống ra ăn kèm với rau thơm, ớt “sừng trâu”. Người cầu kỳ ham thích đậm đà hương vị thì cho mắm chưng với thịt ba rọi, hột vịt, rắc chút hành tiêu, vài lát gừng xắt mỏng. Người ta thích ăn nóng hôi hổi, thoang thoảng hơi cay của sả ớt thì chọn mắm kho ăn kèm mớ rau đồng xanh mơn mởn.
3. Xôi phồng chợ Mới
Chợ Mới được phù sa bồi đắp quanh năm nên cây nếp bản địa chất lượng cao, hạt tròn, đẹp. Nếp kết hợp với đậu trồng trên đất rẫy cho ra món xôi dẻo thơm. Xôi chiên có màu vàng ươm, thơm, ăn rất ngon.
Ăn xôi chiên phồng Chợ Mới có thể chấm với tương ớt, xì dầu hoặc ăn không vẫn “bắt”. Khách đến Chợ Mới, cù lao Giêng có thể thưởng thức xôi chiên với gà quay. Gà được nuôi thả vườn nên thịt dai và ngọt, được quay thủ công nên giữ được vị thơm của gà và mùi vị đặc trưng. Xôi phồng Kim Hương của bà Hồng Thu ở thị trấn Chợ Mới được nhiều người biết đến nhất.
4. Tung lò mò
“Tung lò mò″ chính là một tên gọi khác của món lạp xưởng bò. Đây là món ngon độc đáo của người Chăm ở An Giang. Từ lâu, người Kinh cũng ưa thích và chế biến món lạp xưởng bò gần giống như của người Chăm và hiện phổ biến rộng rãi ở phường Núi Sam, Châu Đốc, Tịnh Biên và Tri Tôn.
Khác lạp xưởng lợn, lạp xưởng bò sau khi làm xong chỉ cần phơi cho khô là có thể đem chiên hoặc nướng. Hấp dẫn nhất là lạp xưởng nướng trên bếp than hồng. Khi nướng chín xong cắt ra thành viên có màu đỏ hồng, hương bay thơm phức không còn mùi mỡ bò.
“Tung lò mò” nướng nên chín tới đâu, ăn tới đó. Bạn sẽ thấy vị ngọt bùi của thịt và mỡ bò, vị chua chua của cơm nguội lên men hòa cùng gia vị cay của ớt, lại ăn kèm với rau sống, rau cần tươi, vị chua của khế, vị chát của chuối sống. Lạp xưởng bò khi ăn phải chấm muối tiêu chanh hoặc tương ớt. Hấp dẫn hơn là có ăn kèm rau sống và ăn chung với bún hoặc bánh mì.
5. Bánh phồng Phú Mỹ
Làng nghề bánh phồng Phú Mỹ hình thành, tồn tại và phát triển gần 70 năm nay, có 50 cơ sở sản xuất, thu hút khoảng 300 lao động. Trong đó, các gia đình nổi tiếng có truyền thống làm bánh như gia đình cụ Lê Minh Dơn, Ngô Thị Dờn, Trần Văn Tâm…
Bánh phồng Phú Mỹ nhỏ bằng cái dĩa nhưng nướng chín phồng to hơn cái quạt nan. Bánh vừa xốp, vừa mềm, cắn vào nghe “phao” miệng bởi vị béo của nếp, vị ngọt của đường, mùi thơm của sữa, mè, đậu nành, đậu phộng… tạo nên hương vị đặc trưng và không thể thiếu trong bữa ăn ngày Tết hay các dịp đám tiệc, cưới hỏi.
6. Gà hấp lá trúc
Đây là món ngon trên núi Cấm (Châu Đốc, An Giang). Trúc là loại cây có múi, mọc ở núi Cấm, hương vị độc đáo. Gà để hấp phải là gà thả vườn có trọng lượng 0,8-1kg, để nguyên con ướp sơ với muối, gia vị… rồi mang đi hấp cách thuỷ khoảng 20 phút. Thịt gà vừa chín tới dùng dao bén chặt thành miếng to cỡ 2 ngón tay, lá trúc xắt nhuyễn rải lên. Món ăn này mang đến cho thực khách cảm nhận được vị ngọt mềm của thịt, vị béo dai của da gà tơ hoà quyện với hương vị nồng the của lá trúc, ngọt chát của bắp chuối, cay cay của muối ớt…
7. Đi Bảy Núi thưởng thức bọ rầy!
Với người dân vùng Bảy Núi – An Giang, bọ rầy được xem là món ăn “độc chiêu” và trở thành nguồn cảm hứng ẩm thực của nhiều quán nhậu. Bọ rầy có hình dạng giống bọ hung, to cỡ ngón tay cái, màu nâu cánh gián, thân ngắn, có cánh, đầu và bộ chân rất cứng nhưng thân mềm và tròn. Loại côn trùng này ngày nay được bày bán ở các chợ Nhà Bàng, chợ Văn Giáo, An Hảo hay chợ thị trấn Tịnh Biên và các chợ miền núi huyện Tri Tôn.
Khi mới đem bọ rầy về, công đoạn đầu tiên là phải ngắt bỏ cánh cứng. Sau đó, móc bỏ phần đuôi, moi ruột, rồi đem rửa sạch bằng nước muối pha loãng. Bước tiếp theo để bọ rầy cho ráo, rồi đem chiên hoặc xào.
Muốn cầu kỳ hơn, có thể dồn thịt ba chỉ băm nhuyễn hay nhét thêm đậu phộng đem chiên giòn. Món bọ rầy chiên giòn ăn kèm với rau sống, cà chua xắt lát, cải xà lách chấm với tương ớt, muối ớt chanh, ngon khó tả.
8. Bánh canh bò viên Bảy Núi
Bánh canh bò viên là một trong những món ăn đặc sản của vùng sơn cước có nhiều cái ngon kết hợp lại. Đầu tiên phải kể đến loại gạo thơm đặc biệt Neang Nhen, đặc sản vùng Bảy Núi được xay ra bột làm bánh canh theo công thức thủ công gia truyền.
Kế đến là nồi nước súp hỗn hợp được ninh nhừ từ xương heo, xương gà, tôm khô, cá… những tinh túy trong nồi nước súp cho ta hương vị đậm đà, bổ dưỡng. Nhưng cái ngon nhất là bò viên. Bảy núi là xứ sở bò vỗ béo, món ngon từ thịt bò được chế biến thành bò viên đã khẳng định vị trí món ăn ngon ngọt mang phong cách địa phương vùng Bảy Núi này.
Bò viên được cắt làm đôi có màu đỏ hồng, nằm bên cạnh là những đoạn hành gọi mời hấp dẫn. Cho miếng bò viên nhẫn nha nhai, thịt vừa giòn dai, vừa thơm ngọt đậm đà.
9. Bò leo núi
Nhiều người nghĩ bò leo núi là bò được nuôi ở vùng núi, thịt rắn chắc. Thực tế vẫn là thịt bò bán tại chợ nhưng qua bàn tay khéo léo của người đầu bếp, món ăn trở nên khác lạ. Đĩa thịt bò được dọn lên nhìn rất đỗi bình thường. Thịt được cắt dày hơn so với các món bò nướng như thường thấy và ướp gia vị thấm thía. Vỉ nướng được làm bằng gang. Giữa vỉ mô lên tròn trĩnh tượng hình quả núi nên tên gọi món ăn xuất phát từ cái vỉ này.
Miếng thịt dù để trên bếp bao lâu vẫn không bị dai, cứng mà luôn mềm mại, ăn rất vừa miệng. Thịt nướng xong gói với bánh tráng, rau sống, chuối chát… chấm với chao hoặc mắm pro-hốc.
Một phần ăn đủ cho 3-4 người, một món ăn đặc sắc, giá hợp lý nên du khách không ai chần chừ chọn món này vào thực đơn trưa khi đến vùng biên giới Tân Châu. Rõ ràng món này có sự giao thoa văn hóa ẩm thực giữa người Kinh và người Khmer.
10. Cơm nị – cà púa
Món ăn là sự kết hợp lạ nhưng hài hòa của cơm nị và cà púa, tạo nên hương vị truyền thống của ẩm thực nơi đây. Cơm nị được nấu rất khéo từ gạo ngon, thơm mùi nụ Đinh Hương, béo thơm vị hạt điều, cà ri và thấm gia vị vừa ăn.
Cà púa lại được người Chăm chế biến từ thịt bò. Để món cà púa ngon, người ta khử mùi thịt bò bằng cách đổ rượu và gừng vào. Sau đó chọn quả dừa bánh tẻ đem nạo sợi nhỏ, một nửa để thắng nước cốt dừa, một nửa để rang vàng.
Thưởng thức cơm nị – cà púa, cảm nhận được vị ngọt béo của sữa dừa, bùi bùi của đậu phộng, vị ngọt của thịt bò, nho khô, cay nồng của ớt, mang lại cảm giác thơm ngon, lạ miệng. Cơm nị và cà púa kết hợp, bổ sung cho nhau tạo hương vị độc đáo trong cách thưởng thức ẩm thực cầu kỳ của ẩm thực Chăm Châu Giang.
11. Bún kèn Châu Đốc
Cũng là bún cá xuất xứ từ Châu Đốc, nhưng bún kèn lại có cách chế biến hoàn toàn khác. Bún kèn có nguồn gốc từ Nam Vang, được những người Việt vùng biên giới mang công thức về chế biến lại cho hợp với khẩu vị người Việt. Món ăn này mới thật sự là đặc sản của Châu Đốc, nhưng ít người biết đến do không phổ biến, chỉ có ở vùng thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Nước lèo bún kèn được chế biến từ nước cốt dừa và nước luộc cá. Hương vị bún kèn có sự hòa quyện của đinh hương, quế hương, ngải bún và sả. Để món ăn thêm đậm đà mà không ngán, người ta dùng tôm khô rang để nấu nước dùng. Bún kèn ăn kèm bắp chuối, giá hoặc dưa leo và húng cây.
12. Cá leo nướng muối ớt
Cá leo là một loài da trơn, mình dài giống như cá trèn nhưng to hơn nhiều, trung bình từ 1-2 kg. Một trong những món ngon độc đáo mà các nhà hàng ở An Giang thường chế biến phục vụ cho du khách hiện nay là cá leo nướng muối ớt.
Nước chấm thích hợp nhất với món cá nướng là nước mắm chua cay hoặc muối ớt vắt chanh. Món này có thể ăn chung với bún hoặc cuốn bánh tráng kèm thêm các loại rau, xà lách, dưa leo, chuối chát, khế… Có thể coi đây là món ngon đặc sản, thịt cá lại lành, bổ dưỡng và ăn ít ngán nên mọi người đều ưa thích.
13. Chè thốt nốt
Cây thốt nốt được trồng nhiều ở miền Tây nước ta. Chè thốt nốt sóng sánh trong nước cốt dừa cũng là một đặc sản của miền Tây. Người Châu Đốc, An Giang thường mời khách món nước thốt nốt mát lạnh, cũng từ thứ “cơm thốt nốt” đặc biệt này.
Chè thốt nốt tuyệt vời nhất khi được thưởng thức lạnh. Cái béo ngậy của cốt dừa quyện chặt lấy cái dẻo, mềm của cùi thốt nốt, ăn rất thú vị. Đặc biệt đường thốt nốt được nấu cùng món chè dân dã miền Tây này càng làm món ăn có hương vị thơm mát tự nhiên.
14. Xôi Xiêm
Xôi xiêm được chế biến từ những nguyên liệu: gạo nếp Thái, bột mỳ, trứng vịt, đường thốt nốt (đường đỏ). Khi ăn xôi xiêm, người ta xới xôi ra đĩa, rưới nước xốt và nước cốt dừa lên trên. Chế biến xôi xiêm không phức tạp nhưng lại cần có kinh nghiệm và sự khéo léo. Xôi hấp phải chín tới, dẻo, không nhão mà cũng không cứng, nước xốt có vị ngọt, ngậy mà không béo, thơm mát.
Xôi xiêm được bán ở chợ Châu Đốc vào 7 rưỡi sáng hàng ngày và đã trở thành một món quà sáng quen thuộc của người dân nơi đây.
Labels
- An Giang
- Bali
- Bình Dương
- Bình Phước
- Bình Thuận
- Bình Định
- Bạc Liêu
- Bắc Giang
- Bắc Kạn
- Bắc Ninh
- Cao Bằng
- Châu Đốc
- Cà Mau
- Côn đảo
- Cần Thơ
- Dak Lak
- Dak Nong
- Gia Lai
- Huế
- Hà Giang
- Hà Nam
- Hà Nội
- Hà Tiên
- Hà Tĩnh
- Hòa Bình
- Hưng Yên
- Hải Dương
- Hải Phòng
- Hậu Giang
- Hồ Chí Minh
- Hồng Kong
- Hội An
- Indonesia
- Kien giang
- Kiên Giang
- Kon Tum
- Lai Châu
- Long An
- Lào
- Lào Cai
- Lạng Sơn
- Malaysia
- Miền Bắc
- Miền Nam
- Miền Trung
- Miền Tây
- Nam Định
- Ninh Bình
- Ninh Thuận
- Phan Thiết
- Phú Quốc
- Phú Thọ
- Phú Yên
- Pleiku
- Quy Nhơn
- Quảng Bình
- Quảng Nam
- Quảng Ngãi
- Quảng Ninh
- Quảng Trị
- Sapa
- Sóc Trăng
- Sơn La
- Tay Nguyên
- Thanh Hóa
- Thái Lan
- Thái Nguyên
- Tiền Giang
- Trà Vinh
- Tuyên Quang
- Tây Bắc
- Tây Nguyên
- Tây Ninh
- Vĩnh Long
- Vĩnh Phúc
- Vũng Tàu
- Yên Bái
- buôn ako dhong
- Điện Biên
- Đà Lạt
- Đà Nẵng
- Đảo Bali
My Blog List
Giới thiệu về tôi
Được tạo bởi Blogger.
Popular Posts
-
Đèo Lò Xo dài 20km thuộc địa phận làng Măng Khen, xã Đăk Man, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum. Đèo nằm trên tuyến đường quốc lộ 14 (HCM) từ Quả...
-
HẢI VÂN Lịch trình 1 : Mỹ Đình – Mù Cang Chải – Lai Châu Giờ xuất bến : Mỹ Đình 19h15 Lai Châu 19h30 Điện thoại : (0231) 6277287 / 094...
-
Tại Việt Nam có nhiều miếu Ba Cô như ở Quảng Ninh, Tây Ninh... Thế nhưng, mỗi khi ngang qua miếu Ba Cô ở lưng chừng đèo Bảo Lộc (huyện Đạ Hu...
-
Buôn Ma Thuột (Hay Ban Mê Thuột ) là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Đắk Lắk, đồng thời là thành phố trung tâm vùng Tây Nguyên và là một trong ...
-
Viết về những vùng đất xa xôi giờ tôi mới viết về đất Nước Lào kế bên mảnh đất hình chữ S. Mảnh đất với xứ sở Triệu Voi và những ngôi Chùa c...
-
Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 , thường được gọi là 30 tháng Tư , ngày giải phóng miền Nam , ngày Thống Nhất (tên gọi tại Việt Nam ) hay ...
-
Nha Trang là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnhKhánh Hòa, Việt Nam. ...
-
Khu du lịch sinh thái KoTam nổi lên như một địa điểm đầy mới mẻ và cuốn hút trong lòng du khách thập phương mỗi khi ghé thăm xứ đất đỏ Ban M...
-
Bỏ lại sau lưng những tòa nhà cao tầng, bỏ lại nhựng con đường đông nghẹt xe cộ, bỏ lại nơi phố thị phồn hoa tráng lệ để đến với một nơi hoà...
-
Nhắc đến trầm tích văn hóa miền hạ lưu Thạch Hà, hàng trăm du khách xa gần không thể quên vẻ đẹp dãy núi Nam Giới. Dãy núi giấu trong lòng ...