Home » All posts
Cao nguyên Đá Đồng Văn (Hà Giang)
Với độ cao trung bình gần 1600m so với mực nước biển, tổng diện tích 2.530km2 trải rộng trên các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc, cao nguyên đá hội tụ những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, đa dạng, có giá trị khoa học phong phú và chứa đựng trong mình những nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Những địa danh trên cao nguyên đá xám trùng điệp
Từ thị xã Hà Giang lên Lũng Cú thuộc huyện Đồng Văn, nơi được coi là nơi địa đầu của Tổ quốc có quãng đường dài 200km. Cột cờ Quốc gia Lũng Cú với lá cờ đỏ sao vàng rộng 54m2, tượng trưng cho 54 dân tộc Việt Nam nằm trên chóp đỉnh núi Rồng (Long Sơn), được thiết kế theo hình bát giác, chân bệ có phù điêu đá xanh mang nét hoa văn của trống đồng Đông Sơn và minh họa các giai đoạn qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước, cũng như con người, tập quán của đồng bào các dân tộc Hà Giang.
Nằm ẩn mình trong thung lũng mây Sà Phìn, sau những tán sa mộc thẳng tắp vươn mình cao vút, Khu di tích lịch sử cấp quốc gia nhà Vương từ lâu đã trở thành điểm đến của nhiều du khách khi lên thăm cao nguyên đá Đồng Văn. Đây là một công trình độc đáo, được làm với những chất liệu như đất sét, đá, gỗ… cụ thể tường được trình bằng đất sét, móng nhà làm bằng đá, bên trong ghép ván, cột kèo bằng gỗ, sàn lát ván gỗ, mái lợp ngói máng, hiên nhà lợp ngói ống trang trí hoa văn chữ “thọ”. Trải qua gần trăm năm, bao mưa nắng, gió bão, có chỗ đã bị thời gian mài mòn, hoang phế, nhưng về cơ bản đến nay nhà Vương vẫn giữ được hình dáng xưa cũ.
Chênh vênh giữa những lớp đá, lớp núi lô xô trùng điệp, Mã Pì Lèng được du khách coi là một trong “tứ đại đỉnh đèo” tại vùng núi phía Bắc, bên cạnh đèo Ô Quy Hồ, đèo Khau Phạ và đèo Pha Đin. Các học giả Pháp, từ cả trăm năm trước, đã gọi đỉnh Mã Pì Lèng nói riêng và Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn nói chung là một “Tượng đài địa chất”. Đi trên đèo Mã Pì Lèng nhìn xuống vực sâu, con sông Nho Quế chỉ bé như một sợi chỉ mà muốn xuống đến mặt nước của sông phải mất hơn một ngày đường.
Nằm ẩn mình trong thung lũng mây Sà Phìn, sau những tán sa mộc thẳng tắp vươn mình cao vút, Khu di tích lịch sử cấp quốc gia nhà Vương từ lâu đã trở thành điểm đến của nhiều du khách khi lên thăm cao nguyên đá Đồng Văn. Đây là một công trình độc đáo, được làm với những chất liệu như đất sét, đá, gỗ… cụ thể tường được trình bằng đất sét, móng nhà làm bằng đá, bên trong ghép ván, cột kèo bằng gỗ, sàn lát ván gỗ, mái lợp ngói máng, hiên nhà lợp ngói ống trang trí hoa văn chữ “thọ”. Trải qua gần trăm năm, bao mưa nắng, gió bão, có chỗ đã bị thời gian mài mòn, hoang phế, nhưng về cơ bản đến nay nhà Vương vẫn giữ được hình dáng xưa cũ.
Chênh vênh giữa những lớp đá, lớp núi lô xô trùng điệp, Mã Pì Lèng được du khách coi là một trong “tứ đại đỉnh đèo” tại vùng núi phía Bắc, bên cạnh đèo Ô Quy Hồ, đèo Khau Phạ và đèo Pha Đin. Các học giả Pháp, từ cả trăm năm trước, đã gọi đỉnh Mã Pì Lèng nói riêng và Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn nói chung là một “Tượng đài địa chất”. Đi trên đèo Mã Pì Lèng nhìn xuống vực sâu, con sông Nho Quế chỉ bé như một sợi chỉ mà muốn xuống đến mặt nước của sông phải mất hơn một ngày đường.
Mã Pì Lèng có nghĩa là sống mũi ngựa, được Bộ VHTTDL xếp hạng là di tích danh lam thắng cảnh quốc gia. Đây là cung đường đèo hiểm trở, vượt đỉnh Mã Pì Lèng cao khoảng 2.000m, thuộc cao nguyên Đồng Văn, nằm trên con đường mang tên đường Hạnh Phúc nối liền thành phố Hà Giang, Đồng Văn và thị trấn Mèo Vạc. Đèo Mã Pì Lèng được coi là khu vực di sản đặc sắc về địa chất và cảnh quan; khu vực đỉnh đèo được đánh giá là một trong những điểm quan sát toàn cảnh vào loại đẹp nhất ở Việt Nam; hẻm vực sông Nho Quế là một trong những thung lũng kiến tạo độc nhất vô nhị ở Việt Nam.
Đặc sắc văn hóa truyền thống
Giữa muôn trùng núi đá kỳ vĩ Đồng Văn, truyền thống văn hóa đặc sắc trong nếp sống của các dân tộc thiểu số Mông, Dao, Tày, Nùng, Lô Lô, Pu Péo… tạo nên sức hấp dẫn đối với những du khách trong và ngoài nước. Những ngôi nhà có tuổi đời hàng trăm năm trong khu phố cổ Đồng Văn đã lưu giữ nhiều giá trị văn hóa của người dân nơi đây.
Chợ phiên Đồng Văn, Sà Phìn tấp nập đông vui, họp mỗi tuần một phiên. Từ sớm tinh mơ đã nghe lọc cọc trên đường tiếng xe ngựa thồ hàng ra chợ của lái buôn, tiếng người gọi nhau í ới. Cả gia đình cùng xuống chợ. Các bà mẹ, người vợ đi chợ để mua sắm; các ông chồng đi chợ để giao lưu uống rượu, ăn thắng cố, thổi khèn… khiến những du khách phương xa như mê mẩn, lạc đi trong rực rỡ sắc màu và ngập tràn thanh âm đặc trưng của những phiên chợ vùng cao. Cũng gọi là chợ, nhưng không phải nơi để buôn bán hàng hóa theo đúng nghĩa, Khau Vai là chợ tình nổi tiếng có một không hai ở nước ta, thậm chí còn độc đáo và hiếm có trên thế giới...
Chợ phiên Đồng Văn, Sà Phìn tấp nập đông vui, họp mỗi tuần một phiên. Từ sớm tinh mơ đã nghe lọc cọc trên đường tiếng xe ngựa thồ hàng ra chợ của lái buôn, tiếng người gọi nhau í ới. Cả gia đình cùng xuống chợ. Các bà mẹ, người vợ đi chợ để mua sắm; các ông chồng đi chợ để giao lưu uống rượu, ăn thắng cố, thổi khèn… khiến những du khách phương xa như mê mẩn, lạc đi trong rực rỡ sắc màu và ngập tràn thanh âm đặc trưng của những phiên chợ vùng cao. Cũng gọi là chợ, nhưng không phải nơi để buôn bán hàng hóa theo đúng nghĩa, Khau Vai là chợ tình nổi tiếng có một không hai ở nước ta, thậm chí còn độc đáo và hiếm có trên thế giới...
Chợ tình Khau Vai được họp trên một quả đồi tại thôn Khau Vai, xã Khau Vai, huyện Mèo Vạc. Chợ họp mỗi năm một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch.
“Đợi anh hết mùa lạnh, đợi anh qua mùa đào
Vượt đỉnh Mã Pì Lèng, ta tìm về với chợ tình Khâu Vai…”
Như một lời ước hẹn, ngày 26/3 Âm lịch hằng năm, từ khắp các nẻo đường chênh vênh trên núi cao, những người dân trong trang phục của dân tộc mình lại xuống chợ. Trước đây chợ tình Khau Vai là chợ của những mối tình trắc trở. Từ những năm 90 của thế kỷ trước trở lại đây, nhiều thanh niên nam, nữ các dân tộc trong vùng đến chợ để vui xuân và cũng để tìm bạn tình, nhiều đôi đã nên vợ nên chồng trong dịp đi chợ tình Khâu Vai.
Sự đan xen giữa nét nên thơ và hùng vĩ của cảnh sắc và con người trên những dãy núi đá trập trùng đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho cao nguyên Đồng Văn.
Xứ sở của đào phai, hoa lê, tuyết trắng, của thắng cố và men rượu mật ong, rượu ngô thơm nồng, cái náo nhiệt buổi chợ phiên, tiếng đàn môi tâm tình gọi bạn, tiếng khèn Mông quyến rũ người tình, tiếng trống đồng âm vang bên bếp lửa nồng đượm đêm dài... đang mời gọi những hành trình khám phá vẻ đẹp kỳ diệu của đất nước.
Xứ sở của đào phai, hoa lê, tuyết trắng, của thắng cố và men rượu mật ong, rượu ngô thơm nồng, cái náo nhiệt buổi chợ phiên, tiếng đàn môi tâm tình gọi bạn, tiếng khèn Mông quyến rũ người tình, tiếng trống đồng âm vang bên bếp lửa nồng đượm đêm dài... đang mời gọi những hành trình khám phá vẻ đẹp kỳ diệu của đất nước.
Núi Đôi Cô Tiên (Hà Giang)
Núi Đôi Quản Bạ tròn trịa, đầy quyến rũ trông giống như bộ ngực căng tròn của nàng tiên đang say giấc nồng.
Theo các nhà khoa học thì Núi Đôi được cấu tạo bằng đá Đô lô mít. Do quá trình phong hóa đá lăn đồng đều theo sườn núi làm lùi dần sườn và hạ thấp dần đỉnh núi, cuối cùng tạo nên hình nón như hiện nay. Đá Đôlômit bị phong hóa (do quá trình tự vỡ) thành các hạt sạn và cát rất dễ dàng di chuyển theo sườn xuống dưới chân do trọng lực và nước chảy tràn trong mùa mưa. Đặc biệt, còn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hình nón của Núi Đôi nói riêng và của các ngọn núi có hình chóp nón nói chung là có sự đan xen của các đứt gãy, hướng khác nhau làm đá bị phá hủy dễ dàng hơn. Núi Đôi thuộc kỷ Đệ Tứ - có niên đại cách ngày nay khoảng 1,6 triệu đến 2 triệu năm cách ngày nay. Ngoài Núi Đôi ra còn có một mực cao hơn gồm các đồi dạng nón được hình thành theo con đường tương tự nhưng ở giai đoạn cổ hơn, thể hiện rõ nhất là ba ngọn núi đang tồn tại ở khu vực thị trấn Tam Sơn như hiện nay.
Núi Đôi còn gắn với những câu chuyện truyền thuyết được đồng bào các dân tộc nơi đây lưu truyền từ đời này sang đời khác cho đến tận ngày nay. Trong đó có một câu chuyện rất cảm động kể rằng: Xưa kia, ở vùng đất này có một chàng trai người H’mông tuấn tú, có tài thổi đàn môi. Tiếng đàn môi của chàng réo rắt như tiếng suối, ríu rít lảnh lót như tiếng chim rừng, lúc lại sâu lắng, trầm bổng, da diết như tiếng gió giữa đêm khuya cứ bay xa, bay xa mãi. Có một nàng tiên trên thượng giới tên là Hoa Đào xinh đẹp tuyệt trần tình cờ nghe được tiếng đàn môi của chàng đã theo gió trốn xuống trần gian tìm người thổi đàn môi. Phải lòng chàng nên nàng tìm cách ở lại vùng đất này. Họ nên vợ nên chồng và sinh được một bé trai kháu khỉnh.
Ngọc Hoàng phát hiện ra chuyện Hoa Đào bỏ trốn xuống trần gian lấy người phàm trần đã vô cùng giận dữ, sai người đi bắt nàng về. Nàng khóc lóc van xin cho nàng được ở lại nuôi con nhưng không được. Thương chồng một mình nuôi con vất vả, thương con thơ thiếu bầu sữa mẹ, nàng đã bỏ lại đôi nhũ của mình dưới hạ giới cho con bú. Đôi nhũ căng tròn nuôi con nàng ngày càng khôn lớn, sau này đã biến thành hai quả núi dáng hình như bầu vú mẹ, tròn trịa, đều đặn đến lạ thường. Hai quả núi đó được gọi là Núi Đôi hay núi Cô Tiên.Tương truyền nhờ dòng sữa của nàng mà vùng đất này có khí hậu vô cùng mát mẻ, các loại hoa trái như đào, mận, lê, hồng,… có hương vị thơm ngon kỳ lạ, rau trái thì luôn xanh tươi, lúa ngô tươi tốt. Nước mắt khóc thương chồng con của nàng đã biến thành dòng sông Miện xanh ngắt, mơ màng trôi trên biển đá tai mèo, ôm lấy cả rẻo đất phía sau cổng trời huyền thoại.
Lại cũng có câu chuyện khác kể về một đôi trai gái yêu nhau, chàng trai khổng lồ đem lòng yêu người con gái xinh đẹp nơi đây, mặc dù ở tận nơi xa, nhưng chàng trai luôn vượt non cao, suối sâu để đến với người yêu nơi thung lũng xinh đẹp này. Gia đình người con gái muốn thử sức chàng trai miền sơn cước để kén rể, bèn thách rằng, nếu chàng trai ngăn được sông Đông Hà chảy ngược vào thung lũng nơi gia đình cô gái ở (ngày nay là thị trấn Tam Sơn) thì gia đình sẽ chấp nhận chàng làm con rể. Chàng khổng lồ nhận lời, mỗi bữa ăn 7 chõ cơm, ngày đêm gánh những quả núi về thung lũng để đắp dòng chảy ngăn sông Đông Hà về thung lũng. Vào một ngày, đang miệt mài gánh đất để ngăn sông, chàng trai nhận được tin mẹ chết, quá đột ngột và đau khổ, quang gánh của chàng khổng lồ va vào dãy núi cao bị gãy, vội vã chàng chạy về quê chịu tang mẹ, không biết vì lý do gì mà chàng khổng lồ đi mãi không trở lại. Người con gái chung thủy đã mỏi mòn chờ đợi người yêu, ngày ngày nàng đi quanh thung lũng để ngắm những thành quả đang dang dở của chàng, mắt nàng luôn hướng về cổng trời mong ngóng chàng trai trở lại, nàng ngả lưng nơi gần chiếc đòn gánh của người yêu để trông chờ chàng và chờ đợi quá lâu đến nỗi nàng đã hóa thân thành núi để mãi mãi đợi chờ người yêu.
Đòn gánh của chàng khổng lồ bị gãy hóa thành dãy núi đòn gánh ông khổng lồ, tiếng địa phương gọi là dãy núi "Phia Pới". Giữa thị trấn Tam Sơn hiện nay có ba ngọn núi do chàng khổng lồ gánh về để ngăn sông, nhân dân nơi đây gọi tên ba ngọn núi là: "Pu Tỉnh" (núi Sáng), "Pu Vang" (núi Vàng ), "Pu Phia Nú" (núi Đá chuột). Bước chân chạy vội vã của chàng khổng lồ tạo thành 9 cái hồ nước sâu ở các làng còn đó đến ngày nay, nhân dân nơi đây gọi tên các hồ là: Sum Pưn, Thâm Rí, Thâm Lâu, Thâm Nán, Thâm Nậm Đăm, Thâm Lùng Pết... 4 hồ khác bị lấp do san ủi làm nhà. Còn người con gái hóa thân thành núi chờ đợi người yêu, ngày nay vẫn còn đó Núi Đôi - Hiện thân bộ ngực căng tròn của người con gái".
Du khách đến đây không khỏi ngạc nhiên với “tác phẩm nghệ thuật” mà tạo hóa đã ban tặng cho vùng đất này. Giữa những núi đá trùng điệp và ruộng bậc thang nổi lên hai trái núi có hình dáng, thế đứng ngồ ngộ khiến bất cứ ai cũng phải ngỡ ngàng.. "Núi Đôi" nổi tiếng đã tạo cho thung lũng Quản Bạ một cảnh quan độc nhất vô nhị hết sức hấp dẫn, một "Tòa Thiên Nhiên" giữa lòng thung lũng mang đầy huyền thoại, thu hút du khách gần xa đến chiêm ngưỡng. Với địa thế đẹp, thời tiết trong lành của vùng cao, vùng núi đôi Quản Bạ đang trở thành khu du lịch nghỉ dưỡng hấp dẫn của tỉnh Hà Giang.
Quản Bạ là huyện cửa ngõ nằm về phía Tây Nam của Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Cách thành phố Hà Giang 46km về phía Bắc, vượt qua dốc Bắc Sum cao ngất trong mây là du khách đã đến với cổng trời Quản Bạ. Đứng từ đây có thể ngắm nhìn thị trấn Tam Sơn thơ mộng quanh năm mát mẻ được ví như “Đà lạt” của Hà Giang, đặc biệt được tận mắt chiêm ngưỡng Núi Đôi Quản Bạ tròn trịa, đầy quyến rũ trông giống như bộ ngực căng tròn của nàng tiên đang say giấc nồng.
Không biết tự bao giờ, người dân nơi đây đã gọi cặp núi độc đáo này là Núi Đôi. Dưới chân Núi Đôi là cánh đồng lúa Núi Đôi Quản Bạ. Suốt bốn mùa, cảnh quan nơi đây thay đổi màu sắc giống hệt Cô Tiên thay áo: áo xanh - đó là lúc cánh đồng lúa đang vào thì con gái; mùa lúa chín lại khoác lên mình chiếc Hoàng bào lộng lẫy; vào vụ cày ải là bộ nâu sồng để bắt tay vào mùa lúa mới v.v., nhưng cặp nhũ hoa thì lúc nào cũng căng tràn sự sống. Cảnh quan khu vực Núi Đôi do vậy lúc nào cũng hút hồn du khách gần xa.
Theo các nhà khoa học thì Núi Đôi được cấu tạo bằng đá Đô lô mít. Do quá trình phong hóa đá lăn đồng đều theo sườn núi làm lùi dần sườn và hạ thấp dần đỉnh núi, cuối cùng tạo nên hình nón như hiện nay. Đá Đôlômit bị phong hóa (do quá trình tự vỡ) thành các hạt sạn và cát rất dễ dàng di chuyển theo sườn xuống dưới chân do trọng lực và nước chảy tràn trong mùa mưa. Đặc biệt, còn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hình nón của Núi Đôi nói riêng và của các ngọn núi có hình chóp nón nói chung là có sự đan xen của các đứt gãy, hướng khác nhau làm đá bị phá hủy dễ dàng hơn. Núi Đôi thuộc kỷ Đệ Tứ - có niên đại cách ngày nay khoảng 1,6 triệu đến 2 triệu năm cách ngày nay. Ngoài Núi Đôi ra còn có một mực cao hơn gồm các đồi dạng nón được hình thành theo con đường tương tự nhưng ở giai đoạn cổ hơn, thể hiện rõ nhất là ba ngọn núi đang tồn tại ở khu vực thị trấn Tam Sơn như hiện nay.
Núi Đôi còn gắn với những câu chuyện truyền thuyết được đồng bào các dân tộc nơi đây lưu truyền từ đời này sang đời khác cho đến tận ngày nay. Trong đó có một câu chuyện rất cảm động kể rằng: Xưa kia, ở vùng đất này có một chàng trai người H’mông tuấn tú, có tài thổi đàn môi. Tiếng đàn môi của chàng réo rắt như tiếng suối, ríu rít lảnh lót như tiếng chim rừng, lúc lại sâu lắng, trầm bổng, da diết như tiếng gió giữa đêm khuya cứ bay xa, bay xa mãi. Có một nàng tiên trên thượng giới tên là Hoa Đào xinh đẹp tuyệt trần tình cờ nghe được tiếng đàn môi của chàng đã theo gió trốn xuống trần gian tìm người thổi đàn môi. Phải lòng chàng nên nàng tìm cách ở lại vùng đất này. Họ nên vợ nên chồng và sinh được một bé trai kháu khỉnh.
Ngọc Hoàng phát hiện ra chuyện Hoa Đào bỏ trốn xuống trần gian lấy người phàm trần đã vô cùng giận dữ, sai người đi bắt nàng về. Nàng khóc lóc van xin cho nàng được ở lại nuôi con nhưng không được. Thương chồng một mình nuôi con vất vả, thương con thơ thiếu bầu sữa mẹ, nàng đã bỏ lại đôi nhũ của mình dưới hạ giới cho con bú. Đôi nhũ căng tròn nuôi con nàng ngày càng khôn lớn, sau này đã biến thành hai quả núi dáng hình như bầu vú mẹ, tròn trịa, đều đặn đến lạ thường. Hai quả núi đó được gọi là Núi Đôi hay núi Cô Tiên.Tương truyền nhờ dòng sữa của nàng mà vùng đất này có khí hậu vô cùng mát mẻ, các loại hoa trái như đào, mận, lê, hồng,… có hương vị thơm ngon kỳ lạ, rau trái thì luôn xanh tươi, lúa ngô tươi tốt. Nước mắt khóc thương chồng con của nàng đã biến thành dòng sông Miện xanh ngắt, mơ màng trôi trên biển đá tai mèo, ôm lấy cả rẻo đất phía sau cổng trời huyền thoại.
Lại cũng có câu chuyện khác kể về một đôi trai gái yêu nhau, chàng trai khổng lồ đem lòng yêu người con gái xinh đẹp nơi đây, mặc dù ở tận nơi xa, nhưng chàng trai luôn vượt non cao, suối sâu để đến với người yêu nơi thung lũng xinh đẹp này. Gia đình người con gái muốn thử sức chàng trai miền sơn cước để kén rể, bèn thách rằng, nếu chàng trai ngăn được sông Đông Hà chảy ngược vào thung lũng nơi gia đình cô gái ở (ngày nay là thị trấn Tam Sơn) thì gia đình sẽ chấp nhận chàng làm con rể. Chàng khổng lồ nhận lời, mỗi bữa ăn 7 chõ cơm, ngày đêm gánh những quả núi về thung lũng để đắp dòng chảy ngăn sông Đông Hà về thung lũng. Vào một ngày, đang miệt mài gánh đất để ngăn sông, chàng trai nhận được tin mẹ chết, quá đột ngột và đau khổ, quang gánh của chàng khổng lồ va vào dãy núi cao bị gãy, vội vã chàng chạy về quê chịu tang mẹ, không biết vì lý do gì mà chàng khổng lồ đi mãi không trở lại. Người con gái chung thủy đã mỏi mòn chờ đợi người yêu, ngày ngày nàng đi quanh thung lũng để ngắm những thành quả đang dang dở của chàng, mắt nàng luôn hướng về cổng trời mong ngóng chàng trai trở lại, nàng ngả lưng nơi gần chiếc đòn gánh của người yêu để trông chờ chàng và chờ đợi quá lâu đến nỗi nàng đã hóa thân thành núi để mãi mãi đợi chờ người yêu.
Đòn gánh của chàng khổng lồ bị gãy hóa thành dãy núi đòn gánh ông khổng lồ, tiếng địa phương gọi là dãy núi "Phia Pới". Giữa thị trấn Tam Sơn hiện nay có ba ngọn núi do chàng khổng lồ gánh về để ngăn sông, nhân dân nơi đây gọi tên ba ngọn núi là: "Pu Tỉnh" (núi Sáng), "Pu Vang" (núi Vàng ), "Pu Phia Nú" (núi Đá chuột). Bước chân chạy vội vã của chàng khổng lồ tạo thành 9 cái hồ nước sâu ở các làng còn đó đến ngày nay, nhân dân nơi đây gọi tên các hồ là: Sum Pưn, Thâm Rí, Thâm Lâu, Thâm Nán, Thâm Nậm Đăm, Thâm Lùng Pết... 4 hồ khác bị lấp do san ủi làm nhà. Còn người con gái hóa thân thành núi chờ đợi người yêu, ngày nay vẫn còn đó Núi Đôi - Hiện thân bộ ngực căng tròn của người con gái".
Du khách đến đây không khỏi ngạc nhiên với “tác phẩm nghệ thuật” mà tạo hóa đã ban tặng cho vùng đất này. Giữa những núi đá trùng điệp và ruộng bậc thang nổi lên hai trái núi có hình dáng, thế đứng ngồ ngộ khiến bất cứ ai cũng phải ngỡ ngàng.. "Núi Đôi" nổi tiếng đã tạo cho thung lũng Quản Bạ một cảnh quan độc nhất vô nhị hết sức hấp dẫn, một "Tòa Thiên Nhiên" giữa lòng thung lũng mang đầy huyền thoại, thu hút du khách gần xa đến chiêm ngưỡng. Với địa thế đẹp, thời tiết trong lành của vùng cao, vùng núi đôi Quản Bạ đang trở thành khu du lịch nghỉ dưỡng hấp dẫn của tỉnh Hà Giang.
(Theo TTVN)
Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên (Vĩnh Phúc)
Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên và một số cơ sở Phật giáo khác không chỉ lo việc tọa thiền, tụng kinh, niệm Phật hàng ngày, mà còn mở các lớp dạy tu Thiền, đang thầm lặng góp phần vào sự nghiệp rèn luyện, giáo dục thế hệ trẻ cho nước nhà. Việc làm “Tốt đời, đẹp đạo” này là một nét nhân văn đáng quý, đáng trân trọng.
Trong những ngày nắng hè cháy bỏng ở Hà Nội, tôi có cơ may tạm lánh xa mọi ồn ào, bức bối nơi đô thị, gác lại những bộn bề công việc để hành hương về miền đất Phật Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên thuộc Trung tâm Văn hóa - Lễ hội tỉnh Vĩnh Phúc, một trong những ngôi Thiền viện lớn nhất Việt Nam để được đắm mình trong không gian yên tĩnh, tôn nghiêm với không khí trong lành, gió núi mát mẻ và bạt ngàn màu xanh cây cỏ…
Chẳng phải đi đâu xa, sau hơn một giờ đồng hồ ngồi ô tô đi theo đường cao tốc Nội Bài- Lào Cai mới mở, rồi rẽ vào đường đi Vĩnh Yên-Tam Đảo chỉ khoảng hơn 60 cây số là tới Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên. Thiền viện thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, tọa lạc trên một quả đồi ở lưng chừng núi Tam Đảo thuộc thôn Đền Thỏng xã Đại Đình, huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc, có độ cao khoảng 300m so với mặt nước biển.
Tới miền đất Phật này, được lễ Phật, lễ Tổ và vãn cảnh Thiền viện tôi tin chắc mọi người đều cảm thấy tâm hồn thanh thản và quên đi mọi mệt mỏi, vất vả, âu lo thế tục.
Nhờ duyên lành, tôi được diện kiến Thượng tọa Thích Kiến Nguyệt viện chủ trụ trì Thiền viện. Qua câu chuyện của Thượng tọa, tôi được biết Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên được khởi công xây dựng ngày 04/04/2004 trên nền một ngôi Chùa cổ có tên là Thiên Ân Thiền Tự, là một trong 3 ngôi Chùa cổ có từ thời vua Hùng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên (Thiên Ân Thiền Tự, Thiên Quang Thiền Tự và Hoa Long Thiền Tự).
Thiền viện có tòa Đại Hùng Bửu Điện-là tòa chính điện nằm ở trung tâm cao 17m, diện tích 675m2, có sức chứa 600 người, đủ chỗ cho phật tử và du khách thập phương ngồi thiền hoặc nghe giảng về Phật pháp. Tòa chính điện thờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở chính giữa, Bồ Tát Phổ Hiền (cưỡi voi) và Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (cưỡi hổ) ở hai bên. Tòa chính điện có 4 cột đá lớn treo các câu đối:
-Phật pháp chỉ đường lìa mê về bến giác/Thiền tông không lối trực ngộ đến chân như
-Phước đức sâu dầy do gieo nhân đạt quả/Tuệ giác tròn đầy bởi bát giác gội nhuần
Bên phải chính điện là Lầu Trống. Thân trống làm bằng 1 khối gỗ mít rừng Gia Lai có đường kính 1,3m, dài 2m. Bên trái là Lầu Chuông. Chuông Đại Hồng Chung nặng 2 tấn được đúc từ một làng nghề truyền thống nổi tiếng ở Huế. Trên mặt chuông có khắc bài thơ của Thiền Sư Viên Học (1073-1136):
Lục thức thường hồn chung dạ khổ
Vô minh bị phủ cửu mê dung
Chú dạ văn chung khai giác ngộ
Lãn thần tịnh sát đắc thần thông
Dịch là:
Sáu thức tối tăm khổ đêm dài
Vô minh che đậy mãi mê say
Sớm tối nghe chuông lòng tỉnh giác
Thần lười dứt sạch, được thần thông
Phía sau chính điện có Nhà Tổ thờ 4 vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm là: Tổ sư Khương Tăng Hội là vị Tổ đầu tiên của Thiền tông Việt Nam và 3 vị Tổ là Sơ tổ Trúc Lâm (tức Phật hoàng Trần Nhân Tông), Thiền sư Pháp Loa và Thiền sư Huyền Quang. Nhà Tổ cũng có các câu đối:
-Tổ tổ truyền đăng phát huy tâm ấn Phật/Tăng tăng tục diện lưu biến chính tông thiền
-Tây Thiên khởi nguồn Phật kiếp kiếp truyền đăng tục diện mãi truyền hằng / Yên Tử mở lối thiền đời đời đức hóa lưu phương luân chuyển khắp
Các câu đối ở Chính điện, Nhà Tổ và bài thơ khắc trên chuông Đại Hồng Chung đều thấm đẫm giáo lý nhà Phật và Thiền tông.
Tượng Phật và các tượng Tổ được làm từ đá Sa thạch là một loại đá quý có độ bền lâu dài mà người Chăm và người Ai Cập xưa thường dùng để tạc tượng. Tượng Phật Thích Ca được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục là tượng Phật sa thạch lớn nhất Việt Nam.
Hành hương chiêm bái Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, tôi ấn tượng nhất hai việc sau đây:
- Trong những năm gần đây, cứ mỗi dịp nghỉ hè, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên lại là “điểm đến” học tu Thiền và Phật pháp. Đại đức Thích Thanh Trí - Phó trụ trì Thiền viện kiêm giáo thọ sư cho biết: Thiền viện mở các lớp học tu Thiền từ năm 2010 đến nay, mỗi năm mở 6 khóa học vào dịp hè, mỗi khóa tiếp nhận khoảng 250 học sinh tuổi từ 14 đến 17-18 (nam-nữ học riêng).
Chiêm bái Thiền viện, ngoài việc được lễ Phật, lễ Tổ…, tôi còn được chứng kiến cảnh các thiền sinh xếp hàng ngay ngắn ngoài sân theo thứ tự vào Trai đường thọ trai các buổi sáng-trưa-chiều, được dự các buổi học giáo lý, tập tu Thiền và sinh hoạt tập thể của thiền sinh, tôi thấy Thiền viện như một trường học vậy. Chỉ khác là trường học dạy chữ-dạy người, còn Thiền viện dạy Thiền-dạy người. Các thầy đã vận dụng giáo lý nhà Phật khi giảng về quy luật nhân quả của đức Phật, về chữ Tâm, chữ Nhẫn, chữ Hiếu…để bồi dưỡng đạo đức, nhân cách, rèn luyện kỹ năng sống cho thế hệ trẻ, hướng tuổi trẻ đến với chân-thiện-mỹ.
Trước khi thọ trai buổi sáng, các thầy đều hướng dẫn thiền sinh ngồi yên lặng niệm Phật Bổn Sư Thích Ca, rồi đọc Tam đề và Ngũ quán. Khi tôi hỏi, Đại đức Thích Trúc Thông Văn - Phó trụ trì Thiền viện giải thích theo giáo lý nhà Phật thì Tam đề là tự tâm mình khởi lên 3 điều: 1-Nguyện dứt các điều ác. 2-Nguyện làm các việc lành. 3-Nguyện độ tất cả chúng sinh. Ngày nào thiền sinh cũng khởi lên 3 điều này để tạo thói quen phải làm những việc tốt đẹp cho bản thân, gia đình và xã hội. Có được nhận thức như vậy rồi sẽ chuyển sang đọc Ngũ quán để thấu rõ mọi bản chất của sự vật. Đó là: 1-Quán (thấy rõ) thức ăn này từ đâu mà có, công của người làm ra hạt gạo, mua được hạt gạo khó nhọc biết bao nhiêu. 2-Quán công đức của mình đủ hay thiếu để được thọ dụng thức ăn này. 3-Quán thức ăn này cốt để dẹp sạch tham-sân-si. 4-Quán thức ăn này như thuốc uống để trị bệnh cho thân thể mình (chứ không phải cốt để ăn ngon). 5-Quán vì thành đạo nghiệp nên mới thọ dụng thức ăn này.
Đại đức còn cho biết: “Phép Thiền của đạo Phật chuyển hóa được thân-tâm, làm cho con người có được trí tuệ và lòng thương yêu (đạo Phật gọi là từ bi). Con người phát triển được trí tuệ và lòng thương yêu là có được nhân cách hoàn hảo nhất”; “Nhà trường của ta hiện nay có dạy đạo đức cho học sinh, nhưng đó chỉ là cái “vỏ” bề ngoài. Nhật Bản và Thái Lan người ta đã đưa Thiền vào dạy ở các trường học”.
Khi tôi hỏi về chữ Tâm trong đạo Phật, thầy Thích Thanh Trí nói: “Phật ở trong tâm, tập thiền để có tâm Phật, tu thiền để tâm an lành-thanh tịnh, từ đó mới có trí tuệ gọi là trí vô sư. Ngay cả việc bố thí-cúng dường cũng phải bằng Tâm thanh tịnh. Bố thí có ghi tên người cho là bố thí hữu tướng (hàm ý người bố thí vẫn muốn có danh tiếng) thì công đức chỉ có hạn. Bố thí vô tướng (không nêu danh tính) là bố thí bằng Tâm thanh tịnh, trong đạo Phật gọi là bố thí vô ngã, bố thí Ba la mật thì công đức vô biên, vô lượng”.
Khi tôi hỏi về chữ Tâm trong đạo Phật, thầy Thích Thanh Trí nói: “Phật ở trong tâm, tập thiền để có tâm Phật, tu thiền để tâm an lành-thanh tịnh, từ đó mới có trí tuệ gọi là trí vô sư. Ngay cả việc bố thí-cúng dường cũng phải bằng Tâm thanh tịnh. Bố thí có ghi tên người cho là bố thí hữu tướng (hàm ý người bố thí vẫn muốn có danh tiếng) thì công đức chỉ có hạn. Bố thí vô tướng (không nêu danh tính) là bố thí bằng Tâm thanh tịnh, trong đạo Phật gọi là bố thí vô ngã, bố thí Ba la mật thì công đức vô biên, vô lượng”.
Các thầy ở Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên và một số cơ sở Phật giáo khác không chỉ lo việc tọa thiền, tụng kinh, niệm Phật hàng ngày, mà còn mở các lớp dạy tu Thiền, đang thầm lặng góp phần vào sự nghiệp rèn luyện, giáo dục thế hệ trẻ cho nước nhà. Việc làm “Tốt đời, đẹp đạo” này là một nét nhân văn đáng quý, đáng trân trọng.
-Việc thứ hai khi về đất Phật Tây Thiên, tôi cũng rất ấn tượng với Dự án công trình xây dựng Đại tượng Phật Quốc Thái-Dân An-Phật Đài bằng đá khối Hoa cương cao 49m gồm 28.100 viên đá có trọng lượng 35.292 tấn. Riêng đầu tượng Phật cao 16m (bằng chiều cao tòa nhà 5 tầng). Đây là Dự án do Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên làm chủ đầu tư, kinh phí lúc đầu dự kiến dựa vào xã hội hóa. Hiện nay mới xây xong bệ đặt tượng, do sự phát tâm công đức, cúng dường bằng tiền mặt, bằng trí tuệ tư vấn thiết kế, công sức khảo sát trắc địa, tổ chức thi công v..v..của nhiều nhà hảo tâm là tăng ni Phật tử, đồng bào trong nước, kiều bào ở nước ngoài, các nhà khoa học (trong đó có GS.TSKH-KTS Hoàng Đạo Kính), các kiến trúc sư, họa sĩ, điêu khắc gia, doanh nhân, doanh nghiệp, thợ thủ công và công nhân xây dựng.
Thượng tọa Thích Kiến Nguyệt cho biết: Theo tính toán của trường Đại học xây dựng thì kinh phí làm tượng Phật bằng đá bán quý là khoảng 400 tỷ đồng. Nếu tượng làm trong 4 năm hoàn thành thì mỗi năm phải chi 100 tỷ, số tiền này khó huy động được ở thời điểm suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay.
Để công trình có thể thực hiện đúng tiến độ dự kiến là 4 năm, Thiền viện đang làm đơn xin Nhà nước và các Cơ quan Ban Ngành chức năng cho phép khai thác mỏ đá ở Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái để cung cấp toàn bộ đá cho công trình.
Như vậy khi Nhà nước cho phép sử dụng tài nguyên Quốc gia để xây dựng công trình cho Quốc gia, và toàn dân công đức phần bê tông, chế tác (trị giá khoảng 200 tỷ). Công trình Quốc Thái-Dân An-Phật Đài sẽ thể hiện tinh thần Nhà nước và toàn dân Việt Nam hôm nay đoàn kết quyết tâm xây dựng để nguyện cầu cho đất nước thoát khỏi hiểm họa chiến tranh. Bằng tâm lực, trí lực tôn tạo tượng đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni với tâm thành của toàn dân cầu nguyện cho đất nước được hòa bình, Tam Bảo sẽ chứng minh và gia hộ cho sở cầu sở nguyện lành của chúng ta sớm được thành đạt như ý nguyện. Quốc Thái-Dân An-Phật Đài được xây dựng bằng đá Hoa cương ở bên ngoài, phần nội thất bên trong làm bằng đá bán quý (đá Vân, đá Cẩm thạch) hấp thụ hồn thiêng sông núi và linh khí Việt Nam hàng triệu năm trong lòng đất, sẽ phát năng lượng rất lớn, lại do nghệ nhân Việt Nam chế tác-xứng đáng là “Bảo vật Quốc gia” mang ý nghĩa “Quốc hồn, Quốc túy Việt Nam”.
Quả vậy, Đại tượng Phật được hoàn thành sẽ là một kỳ công, kỳ tích, kỳ vĩ của toàn dân hôm nay trao tặng lại cho con cháu các thế hệ mai sau. Khi mọi người hành hương về Thiền viện lễ Phật để nguyện cầu cho gia đình được bình an, đất nước được thái bình, thụ hưởng nguồn năng lượng an lành từ đức Phật sẽ đưa đến quả phúc “Quốc Thái-Dân An”.
Vũ Tất Tiến/Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 5 năm 2014
Khu Du Lịch Tam Đảo (Vĩnh Phúc)
Năm 1997, sau khi tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập, khu du lịch Tam Đảo được tái quy hoạch để trở thành một trọng điểm du lịch của tỉnh – nơi thu hút một lượng khách lớn đến Vĩnh Phúc với nhiều loại hình du lịch: Du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch rèn luyện thể thao, du lịch nghiên cứu, du lịch tâm linh…
Tam Đảo được mọi người biết đến là Khu Du lịch nổi tiếng không chỉ với du khách trong nước. Đặc biệt là thời điểm mùa hè - khi mà nền nhiệt vùng đồng bằng khiến con người muốn tìm đến một không gian mát lành để nghỉ ngơi thì Tam Đảo là sự lựa chọn lý tưởng. Đến đây du khách sẽ cảm nhận được bốn mùa trong một ngày: Buổi sáng se se gió xuân, buổi trưa nắng mùa hạ, buổi chiều heo may mùa thu, buổi tối lạnh giá mùa đông; thưởng thức những món ăn đặc sản của dân tộc, món ăn dân giã của địa phương; nghỉ ngơi trong những phòng khách sạn có vị trí và tầm nhìn đẹp mắt, thảnh thơi trong khung cảnh thiên nhiên trên những con đường dạo bộ, khung cảnh vừa thơ mộng vừa hung vĩ, vừa huyền ảo với sương, gió, mây trời như đan quyện vào nhau.
Có những địa danh mà khi nói đến du lịch Tam Đảo du khách không thể không nghĩ đến, là nhân tố không thể thiếu trong chuyến hành trình khám phá, nghỉ ngơi tại đây.
Thác Bạc - Tam Đảo
Đó là dòng thác Bạc trong vắt, nước chảy bốn mùa.Vào thời điểm mùa hè, du khách lên Tam Đảo không thể bỏ qua những khoảng khắc đắm mình dưới dòng thác Bạc - là một trong những điểm tham quan lý thú. Rẽ theo con đường mòn, hút xuống thung lũng sâu, thác Bạc do suối Mơ, suối Bạc và suối Tiên đổ vào. Thác giấu mình trong núi, bí ẩn đổ xuống dòng nước trắng bạc lóng lánh ánh mặt trời phản chiếu sắc cầu vồng. Một dòng suối nhỏ từ trên cao 30m ào ào tuôn nước trắng xoá như một dải bạc.
Với những ai đam mê khám phá hệ sinh thái đa dạng của thiên nhiên thì Vườn quốc gia Tam Đảo là địa điểm không thể bỏ qua. Đó là một kho tàng, tài sản quý của quốc gia, là kho dự trữ các nguồn gen động thực vật quý của Việt Nam . Đồng thời có giá trị to lớn trong bảo vệ môi trường, điều tiết và cung cấp nước, phục vụ nghiên cứu khoa học…
Tháp truyền hình
Có một nơi mà nếu đến Tam Đảo du khách ai cũng muốn một lần được tự sức khám phá, được tận mắt nhìn thấy, nhất là đối với các bạn trẻ, đó là chinh phục tháp truyền hình Tam Đảo. Riêng việc được nghe kể về quá trình xây tháp đã là một chi tiết thú vị. Để xây dựng thành công, các kỹ sư và chuyên gia trong nước cũng như nước ngoài đã phải nghiên cứu một cách rất công phu từng chi tiết nhỏ: Từ chọn vị trí ở một nơi cao như vậy có đảm bảo sự vững chắc, lắp thế nào khi tầng trên cùng của tháp thò ra vực sâu, phương án dựng tháp bằng hình thức nào (kéo cẩu hay là đẩy), đặt máy ra sao để có sức đẩy một khối lượng nặng mấy trăm tấn…Và sau bao vất vả, tính đi tính lại việc xây tháp đã hoàn thành, hiện ngọn tháp cao hơn 100m này đang tồn tại trên đỉnh núi cao 1200m.
Để lên được tháp, du khách phải leo 1394 bậc đá dốc thoai thoải, tuy không cách trở như đường lên Yên Tử hay chùa Hương nhưng cũng là một hành trình thú vị. Đường lên được bao bọc bởi cây cối hai bên. Người leo tháp vừa đi vừa nghỉ và hít thở không khí trong lành, nói chuyện cho quên đi cái mệt và nghe những âm thanh từ tiềng gió, tiếng chim hót vọng ra từ rừng.
Lên đến nơi, một khung cảnh hiện ra thật tuyệt vời, đứng trên tầm cao phóng tầm mắt ra xa con người như đang đứng ở một vị trí có thể chinh phục được toàn bộ thiên nhiên xung quanh mình, nhìn xuống thấy mọi vật đều bé xíu, thích nhất là ở trên độ cao này những giàn susu lên mập mạp và non tua tủa rất thích mắt như một biểu trưng cho sức chịu đựng mãnh liệt của những cán bộ sống và làm việc tại đây. Sau những phút thư thái trên cao, đường xuống có vẻ nhẹ nhàng hơn nhiều, gần 1400 bậc đá giờ chỉ là một hành trình vừa đi vừa nghỉ ngơi và suy ngẫm về một cuộc “dã ngoại” hết sức bổ ích.
Đền Bà chúa Thượng ngàn
Không thể quên một Tam Đảo với những điểm du lịch tâm linh ẩn mình trong thiên nhiên: Đền Bà chúa Thượng ngàn, đền Trần để du khách có những giây phút lắng đọng tâm hồn. Trong không gian yên bình giữa lòng mẹ thiên nhiên, còn gì tuyệt vời hơn khi chúng ta được tham quan, tĩnh tại cầu mong điều tốt đẹp đến với mình trong cuộc sống
Khu Du lịch Tam Đảo còn được biết đến là địa danh gắn vời nhiều di tích lịch sử vô giá của dân tộc:
Nhà thờ Tam Đảo
Nhà thờ Tam Đảo: Được xây dựng từ năm 1906, nhà sàn lợp lá. Đến năm 1937 xây lại to đẹp, kiên cố với vật liệu đá, gạch. Ngôi thánh đường xây dựng theo kiến trúc kiểu Gothic, nổi trên nền rừng thông xanh ngắt trên sườn núi Nhà Thờ. Trong kháng chiến chống Pháp, thực hiện chính sách tiêu thổ kháng chiến của cách mạng Việt Nam, nhân dân đã di tản khỏi thị trấn, mọi biệt thự đều bị phá hủy; riêng nhà thờ được Bác Hồ chỉ thị phải giữ nguyên vẹn, không được xâm phạm vào tín ngưỡng của dân... nhờ vậy giữ được một kiến trúc đậm nét văn hóa. Từ năm 1954, chính quyền trưng dụng nhà thờ vào việc công. Ngày 02 - 9 -2008, lần đầu tiên nhà thờ cổ Tam Đảo chính thức tổ chức buổi dâng lễ tạ ơn, với hơn 2.000 giáo dân tham dự.
Ngày nay, đứng ở thung lũng Tam Đảo, bất cứ nơi nào cũng nhìn thấy nhà thờ đá như một người trầm mặc in hình giữa rừng thông vi vút lá gió trên sườn núi. Nhà thờ có một khoảng sân khá rộng. Khoảng sân này một mặt dài theo hông nhà thờ, mặt kia nằm “chon von” phía đường lộ. Để đảm bảo an toàn cho tín hữu, phía đường lộ được xây dựng một vòm cửa bằng đá xanh. Vòm cửa nào cũng có hình bán nguyệt, có mặt bằng để khách ngồi nhìn ngắm thị trấn bên dưới - có thể xem là một tác phẩm mỹ thuật làm tôn vẻ đẹp vốn có của nhà thờ.
Với những nét đặc trưng quý hiếm đó, nhà thờ đá cổ là một điểm tham quan lý thú, thu hút bất cứ vị khách nào khi đến nghỉ ngơi tại Tam Đảo. Đến tham quan nhà thờ bất cứ thời điểm nào trong ngày, khách cũng đều thấy vẻ đẹp của nó, mỗi tiết trời một vẻ đẹp khác nhau.
Nhà Rông - Tam Đảo
Hệ thống hầm trú ẩn nằm trên dãy núi Tam Đảo: Những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20, khi mà đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc lần thứ nhất, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chọn Tam Đảo để xây dựng hệ thống hầm hào trú ẩn. Thứ nhất vì Tam Đảo ở vị tri gần thủ đô Hà Nội, hai là có khí hậu mát mẻ, có núi rừng hiểm trở che chắn, vì thế địch khó phát hiện. Mục đích của việc xây dựng hầm trú ẩn là để đảm bảo an toàn tính mạng cho các đồng chí trong Bộ Chính trị, khi bị địch bắn phá bằng hoả lực hoặc dùng máy bay oanh tạc. Hệ thống hầm trú ẩn và hai nhà nghỉ của Trung ương được triển khai xây dựng và hoàn thành ngay trong năm 1965, do trung đoàn 600, Bộ Tư lệnh Công binh thiết kế và xây dựng gồm có 5 hầm:
Hầm số 1 tại khu nhà nghỉ biệt thự 18A, do Ban Quản trị Kinh tế, Văn phòng Trung ương Đảng quản lý. Nhà nghỉ rộng 600m2 , là nơi làm việc, nghỉ ngơi tĩnh dưỡng của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cả trong những năm kháng chiến chống Mỹ cũng như những năm đất nước hoà bình.
Hầm số 2, tại nhà nghỉ biệt thự Trung ương 18B, do Ban Quản trị Kinh tế, Văn phòng Trung ương Đảng quản lý. Sinh thời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thường xuyên về đây làm việc, nghỉ ngơi tĩnh dưỡng cho đến những ngày cuối đời. Cố Tổng Bí thư Trường Trinh cũng đã nhiều lần về đây nghỉ ngơi.
Hầm số 3 là hầm nhà Rông: Tại hầm này cuối năm 1967 Bác Hồ đã về đây nghỉ và làm việc một thời gian ngắn. Hầm này được thiết kế hình cánh cung, ngay sát mép đường, nằm cạnh sườn núi, có một cửa vào và một cửa thoát hiểm, đường hầm dài 26m, rộng 0,9m , cao 2m, được xây kè bằng đá dày 1m, trên nóc hầm kè lớp đá dày 7- 8m.
Hầm số 4: Nằm giữa phía sau của khách sạn Ngôi Sao. Cũng như các hầm khác có một cửa vào và một cửa thoát hiểm. Đường hầm dài 28m, rộng 0,9m, cao 2m, xây bằng đá dày 1m, hầm này được thiết kế hình chữ chi đi lại lắt néo, bí mật, phía trên nóc hầm kè một lớp đá dày 7 - 8m.
Hầm số 5 (cạnh nhà nghỉ Công đoàn cũ) có hai cửa, một cửa vào và một cửa thoát hiểm, đường hầm được thiết kế hình chữ Z, dài 26 mét, rộng 0,9m, cao 2m, trên nóc hầm được phủ một lớp đá dày từ 7 - 8m.
Cả 5 hầm trú ẩn trên tuy được thiết kế ở 5 địa điểm khác nhau, nhưng kết cấu, kiến trúc, kích thước gần giống nhau, tạo thành một thế trận phòng thủ vững chắc liên hoàn, nằm tại trung tâm thị trấn Tam Đảo hàm chứa nhiều ý nghĩa lịch sử.
Hệ thống hầm trú ẩn nằm trên dãy núi Tam Đảo trong những năm kháng chiến chống Mỹ là một nơi trú ẩn an toàn bí mật, đã che trở, bao bọc cho các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Bên cạnh hệ thống hầm trú ẩn, còn có hai biệt thự nhà nghỉ Trung ương 18A và 18B, các đồng chí Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Trần Đức Lương, Nông Đức Mạnh... đã nhiều lần về đây làm việc và nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Vì vậy có thể khẳng định hệ thống hầm trú ẩn của Bộ Chính trị nằm trên đỉnh núi Tam Đảo là một chứng tích lịch sử, một địa bàn kháng chiến trong lòng đất.
Biệt thự 18A
Biệt thự 18B
Tỉnh Vĩnh Phúc đã có chủ trương khôi phục lại hệ thống hầm này, bên cạnh ý phục vụ mục đích quân sự, vào những thời điểm nhất định có thể sẽ phục vụ khách tham quan. Với những du khách yêu thích sự khám phá, tìm về những dấu tích lịch sử dân tộc, trài nghiệm một phần cuộc sống cha ông thời kháng chiến thì đây là sự lựa chọn thú vị nhất.
Hơn một trăm năm hình thành và phát triển, một chặng đường đủ dài để suy ngẫm về một Tam Đảo những gì đã qua và những gì đang tới. Từ một ý đồ thành một trạm nghỉ dưỡng, Tam Đảo hôm nay đã tự khẳng định để trở thành một khu du lịch nổi tiếng của Vĩnh Phúc gắn với những điểm di tích lịch sử, văn hoá có giá trị và thiên nhiên kỳ thú. Tam Đảo đang cần đầu tư nhiều hơn thế để Tam Đảo tương lai sẽ là một trung tâm du lịch - nghỉ dưỡng và văn hóa có tầm cỡ quốc tế./.
Thung Lũng Vàng- Du lịch Xanh Đà Lạt
Cách thành phố Đà Lạt khoảng 15 km theo hướng Tây Bắc, nằm e ấp bên hồ Đankia - Suối Vàng, khu du lịch sinh thái Thung Lũng Vàng với bạt ngàn thông xanh, hoa cỏ và đá bonsai mới được đưa vào khai thác đã trở thành điểm đến hấp dẫn du khách.
Khu du lịch nằm dưới tán rừng thông ba lá, cây cao từ 5 – 15 mét. Thực bì gồm cỏ tranh, cỏ gừng, cỏ ba lá, cây bụi, ngũ gia bì, ràng ràng , trinh nữ. Địa hình đồi núi uốn nếp, bề mặt có dạng lượn sóng, sườn dốc từ 15% đến 30%. Độ cao trung bình so với mực nước biển từ 1400 đến 1500 Mét. Nhiệt độ trung bình từ 19 đến 28oC. Nằm trong khu vực ôn đới gió mùa, trong năm phân làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 04 đến tháng 10 – chiếm 80- 90% tổng lượng mưa trong năm. Lượng mưa cao nhất tập trung vào tháng 7, tháng 8 và tháng 9, mùa khô từ tháng 11 đến cuối tháng 03 năm sau. Độ ẩm không khí trong mùa mưa là 80%, trong mùa khô là dưới 80%.
TLV có vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu ôn hòa, nằm trên địa bàn thành phố du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước cho nên tiềm năng phát triển du lịch tham quan, hội nghị, học tập, nghỉ dưỡng, chữa bệnh… là rất lớn.
Từ khi đi vào hoạt động kinh doanh đến nay, Khu DL Thung Lũng vàng đã gây được nhiều thiện cảm trong lòng du khách, khẳng định được thương hiệu, góp phần vào sự đa dạng phong phú cho ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng, tạo thêm sức hấp dẫn du khách đến Đà Lạt, hoàn thành nghĩa vụ thu nộp ngân sách, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế tỉnh nhà.
“Nơi đây yên bình, thơ mộng và thanh khiết quá. Thanh khiết vô cùng!”, cô sinh viên mỹ thuật người Nhật Sato Kohara vừa loay hoay với chiếc máy ảnh trước những cành hoa dại lơ thơ cạnh vạt cỏ xanh mướt trên những sườn đồi thoai thoải vừa nói với tôi. “Lần sau đến Việt Nam, em sẽ trở lại nơi đây cùng vài người bạn”.
Khu du lịch Thung Lũng Vàng mới đi vào hoạt động đã thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước mỗi khi đến đây. Nhiều du khách từ TP.HCM cảm thấy lưu luyến khi phải lên xe trở về trung tâm thành phố Đà Lạt sau gần một buổi thơ thẩn ở Thung Lũng Vàng và thầm trách: “Sao lâu nay không thấy các hãng du lịch giới thiệu!”.
Từ khi đi vào hoạt động kinh doanh đến nay, Khu DL Thung Lũng vàng đã gây được nhiều thiện cảm trong lòng du khách, khẳng định được thương hiệu, góp phần vào sự đa dạng phong phú cho ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng, tạo thêm sức hấp dẫn du khách đến Đà Lạt, hoàn thành nghĩa vụ thu nộp ngân sách, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế tỉnh nhà.
“Nơi đây yên bình, thơ mộng và thanh khiết quá. Thanh khiết vô cùng!”, cô sinh viên mỹ thuật người Nhật Sato Kohara vừa loay hoay với chiếc máy ảnh trước những cành hoa dại lơ thơ cạnh vạt cỏ xanh mướt trên những sườn đồi thoai thoải vừa nói với tôi. “Lần sau đến Việt Nam, em sẽ trở lại nơi đây cùng vài người bạn”.
Khu du lịch Thung Lũng Vàng mới đi vào hoạt động đã thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước mỗi khi đến đây. Nhiều du khách từ TP.HCM cảm thấy lưu luyến khi phải lên xe trở về trung tâm thành phố Đà Lạt sau gần một buổi thơ thẩn ở Thung Lũng Vàng và thầm trách: “Sao lâu nay không thấy các hãng du lịch giới thiệu!”.
Nằm cạnh nhà máy nước Dankia - Suối Vàng, Thung Lũng Vàng với diện tích khoảng 20ha gồm những đồi thông thoai thoải, trước đây là vùng sâu vùng xa của Đà Lạt. Đó là chốn ở của khoảng 30 cán bộ, công nhân Công ty Cấp nước Lâm Đồng. Kỹ sư Trần Đình Lãnh, Giám đốc Công ty và là “kiến trúc sư trưởng” của Khu du lịch Thung Lũng Vàng ban đầu chỉ muốn tận dụng một khu đất trống để tạo những tiểu cảnh cho số công nhân làm việc ở đây thư giãn những lúc rảnh rỗi. Nhưng rồi theo thời gian và với sự chung tay của những cán bộ nhân viên trong đơn vị, công viên thu nhỏ này trở thành khu vườn sinh thái và bây giờ là khu du lịch rộng lớn với những bộ sưu tập thực vật và đá để tạo nên một điểm đến khá độc đáo ở giữa rừng thông bạt ngàn.
Không riêng gì dân địa phương, các cặp cô dâu chú rể từ TP. HCM giờ đây cũng chọn Thung Lũng Vàng làm điểm chụp ảnh ngoại cảnh.
Những ai đã từng biết Đồi Cù sẽ ngạc nhiên hơn khi đến Thung Lũng Vàng, bởi nơi đây không những hội đủ những nét đặc trưng của Đồi Cù xưa, mà còn có nhiều cảnh quan thơ mộng và hấp dẫn khác. Xen lẫn giữa rừng thông bạt ngàn là những loài cây đặc hữu Đà Lạt như mimosa, mai anh đào, thông 5 lá… cùng hàng cây phong có nguồn gốc từ Canada và một số cây cổ thụ có tuổi từ 80 - 100 năm. Cạnh những khu vườn cây là vườn đá được sắp xếp theo một ý tưởng độc đáo mang ý nghĩa “giao hoà và thân thiện” với nhiều loại đá hiếm sưu tầm từ nhiều nơi trên Tây Nguyên.
Không riêng gì dân địa phương, các cặp cô dâu chú rể từ TP. HCM giờ đây cũng chọn Thung Lũng Vàng làm điểm chụp ảnh ngoại cảnh.
Những ai đã từng biết Đồi Cù sẽ ngạc nhiên hơn khi đến Thung Lũng Vàng, bởi nơi đây không những hội đủ những nét đặc trưng của Đồi Cù xưa, mà còn có nhiều cảnh quan thơ mộng và hấp dẫn khác. Xen lẫn giữa rừng thông bạt ngàn là những loài cây đặc hữu Đà Lạt như mimosa, mai anh đào, thông 5 lá… cùng hàng cây phong có nguồn gốc từ Canada và một số cây cổ thụ có tuổi từ 80 - 100 năm. Cạnh những khu vườn cây là vườn đá được sắp xếp theo một ý tưởng độc đáo mang ý nghĩa “giao hoà và thân thiện” với nhiều loại đá hiếm sưu tầm từ nhiều nơi trên Tây Nguyên.
So với nhiều khu du lịch hiện có ở Đà Lạt, Thung Lũng Vàng không có dáng vẻ hoành tráng, nhưng tạo được dấu ấn trong lòng du khách khi ứng dụng nghệ thuật sắp đặt trong thiết kế và tận dụng những tiểu cảnh dựa trên cơ sở triết lý Đông phương khiến cho cảnh quan chung của cả khu vực trông tựa một bức tranh sơn thuỷ.
Sau khi lang thang một vòng để ngắm nhìn các vườn cây, bãi đá, vườn bonsai hay các thác nước nhân tạo, nhiều du khách ngả lưng trên những thảm cỏ êm mượt bên những sườn đồi thoai thoải để vừa nghe thông reo vi vu, vừa ngửi mùi thơm quyến rũ từ những tán thông già mặc cho thời gian trôi. Bên dưới những đồi thông là những vạt rừng bằng phẳng và khá rộng để du khách có thể tổ chức sinh hoạt dã ngoại dưới tán lá rừng hoặc câu cá bên những hồ nước nhân tạo với những kiểu dáng mới lạ…
Sau khi lang thang một vòng để ngắm nhìn các vườn cây, bãi đá, vườn bonsai hay các thác nước nhân tạo, nhiều du khách ngả lưng trên những thảm cỏ êm mượt bên những sườn đồi thoai thoải để vừa nghe thông reo vi vu, vừa ngửi mùi thơm quyến rũ từ những tán thông già mặc cho thời gian trôi. Bên dưới những đồi thông là những vạt rừng bằng phẳng và khá rộng để du khách có thể tổ chức sinh hoạt dã ngoại dưới tán lá rừng hoặc câu cá bên những hồ nước nhân tạo với những kiểu dáng mới lạ…
Labels
- An Giang
- Bali
- Bình Dương
- Bình Phước
- Bình Thuận
- Bình Định
- Bạc Liêu
- Bắc Giang
- Bắc Kạn
- Bắc Ninh
- Cao Bằng
- Châu Đốc
- Cà Mau
- Côn đảo
- Cần Thơ
- Dak Lak
- Dak Nong
- Gia Lai
- Huế
- Hà Giang
- Hà Nam
- Hà Nội
- Hà Tiên
- Hà Tĩnh
- Hòa Bình
- Hưng Yên
- Hải Dương
- Hải Phòng
- Hậu Giang
- Hồ Chí Minh
- Hồng Kong
- Hội An
- Indonesia
- Kien giang
- Kiên Giang
- Kon Tum
- Lai Châu
- Long An
- Lào
- Lào Cai
- Lạng Sơn
- Malaysia
- Miền Bắc
- Miền Nam
- Miền Trung
- Miền Tây
- Nam Định
- Ninh Bình
- Ninh Thuận
- Phan Thiết
- Phú Quốc
- Phú Thọ
- Phú Yên
- Pleiku
- Quy Nhơn
- Quảng Bình
- Quảng Nam
- Quảng Ngãi
- Quảng Ninh
- Quảng Trị
- Sapa
- Sóc Trăng
- Sơn La
- Tay Nguyên
- Thanh Hóa
- Thái Lan
- Thái Nguyên
- Tiền Giang
- Trà Vinh
- Tuyên Quang
- Tây Bắc
- Tây Nguyên
- Tây Ninh
- Vĩnh Long
- Vĩnh Phúc
- Vũng Tàu
- Yên Bái
- buôn ako dhong
- Điện Biên
- Đà Lạt
- Đà Nẵng
- Đảo Bali
My Blog List
Giới thiệu về tôi
Được tạo bởi Blogger.
Popular Posts
-
Đèo Lò Xo dài 20km thuộc địa phận làng Măng Khen, xã Đăk Man, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum. Đèo nằm trên tuyến đường quốc lộ 14 (HCM) từ Quả...
-
HẢI VÂN Lịch trình 1 : Mỹ Đình – Mù Cang Chải – Lai Châu Giờ xuất bến : Mỹ Đình 19h15 Lai Châu 19h30 Điện thoại : (0231) 6277287 / 094...
-
Tại Việt Nam có nhiều miếu Ba Cô như ở Quảng Ninh, Tây Ninh... Thế nhưng, mỗi khi ngang qua miếu Ba Cô ở lưng chừng đèo Bảo Lộc (huyện Đạ Hu...
-
Buôn Ma Thuột (Hay Ban Mê Thuột ) là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Đắk Lắk, đồng thời là thành phố trung tâm vùng Tây Nguyên và là một trong ...
-
Viết về những vùng đất xa xôi giờ tôi mới viết về đất Nước Lào kế bên mảnh đất hình chữ S. Mảnh đất với xứ sở Triệu Voi và những ngôi Chùa c...
-
Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 , thường được gọi là 30 tháng Tư , ngày giải phóng miền Nam , ngày Thống Nhất (tên gọi tại Việt Nam ) hay ...
-
Nha Trang là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnhKhánh Hòa, Việt Nam. ...
-
Khu du lịch sinh thái KoTam nổi lên như một địa điểm đầy mới mẻ và cuốn hút trong lòng du khách thập phương mỗi khi ghé thăm xứ đất đỏ Ban M...
-
Bỏ lại sau lưng những tòa nhà cao tầng, bỏ lại nhựng con đường đông nghẹt xe cộ, bỏ lại nơi phố thị phồn hoa tráng lệ để đến với một nơi hoà...
-
Nhắc đến trầm tích văn hóa miền hạ lưu Thạch Hà, hàng trăm du khách xa gần không thể quên vẻ đẹp dãy núi Nam Giới. Dãy núi giấu trong lòng ...




